Bài 6 / 32

Gặt Hái Phước Lành Từ Đền Thánh

6. Reaping the Sanctuary’s Benefits - Pastor Stephen Bohr - His Way Is In The Sanctuary

Mối liên hệ giữa thập tự giá và Lễ Ngũ Tuần

Có một mối liên hệ rất chặt chẽ giữa những gì đã xảy ra trên thập tự giá tại đồi Gô-gô-tha và những gì đã xảy ra vào ngày Lễ Ngũ Tuần vài tuần sau đó. Phần lớn Cơ-đốc nhân khi đọc Công Vụ Các Sứ Đồ chương 2 — diễn ra bốn mươi ngày sau sự phục sinh của Đức Chúa Giê-su — thường chỉ tập trung vào những gì đã xảy ra trên đất: lưỡi bằng lửa, tiếng gió thổi mạnh, các môn đồ được đầy dẫy Đức Thánh Linh và nói các thứ tiếng khác.

Tuy nhiên, biến cố quan trọng nhất của ngày Lễ Ngũ Tuần thực ra không diễn ra trên đất, mà ở trên trời. Và biến cố trên trời ấy có một mối liên hệ không thể tách rời với những gì Đức Chúa Giê-su đã làm trên thập tự giá. Để hiểu được điều này, chúng ta cần xem xét một mô thức xuyên suốt Kinh Thánh: trước hết là một của lễ được dâng lên, rồi sau đó là lửa từ trời giáng xuống — dấu hiệu Đức Chúa Trời chấp nhận của lễ ấy.


Mô thức của lễ và lửa từ trời trong Cựu Ước

Mô thức đầu tiên có thể thấy trong câu chuyện của A-bên. Kinh Thánh không nói rõ của lễ của A-bên đã được tiêu hủy bằng cách nào, nhưng dựa trên toàn bộ sự dạy dỗ của Kinh Thánh về cách Đức Chúa Trời bày tỏ sự chấp nhận, hầu như chắc chắn lửa đã từ trời giáng xuống thiêu đốt của lễ ấy. Bà Ellen White viết trong tạp chí Signs of the Times ngày 6 tháng 2 năm 1879: “Đức Chúa Trời đoái xem của lễ này, và lửa từ trời giáng xuống thiêu đốt nó.”

Tại đền tạm trong đồng vắng, khi đền tạm được khánh thành, Lê-vi Ký 9:22–24 chép rằng A-rôn và Môi-se ra khỏi hội mạc, ban phước cho dân sự, rồi vinh quang của Đức Giê-hô-va hiện ra cùng cả dân sự, và lửa từ trước mặt Đức Giê-hô-va lòe ra, thiêu hóa của lễ thiêu trên bàn thờ.

Khi Đa-vít dâng của lễ trên sân đập lúa của Ọt-nan, I Sử Ký 21:26 chép rằng Đức Chúa Trời “đáp lời người, sai lửa từ trời giáng xuống trên bàn thờ về của lễ thiêu.” Khi đền thờ của Sa-lô-môn được khánh thành, II Sử Ký 7:1 chép rằng “lửa từ trời giáng xuống đốt của lễ thiêu và các hi sinh, sự vinh hiển của Đức Giê-hô-va đầy dẫy trong đền.” Và trên núi Cạt-mên, khi Ê-li dâng của lễ, lửa của Đức Giê-hô-va giáng xuống thiêu đốt của lễ thiêu, củi, đá, bụi và liếm cả nước trong mương (I Các Vua 18:38).

Mô thức rất rõ ràng: của lễ được dâng lên, rồi lửa từ trời giáng xuống bày tỏ sự chấp nhận của Đức Chúa Trời.


Hai vầng đá và nước hằng sống

Cựu Ước còn có hai biến cố về vầng đá soi sáng ý nghĩa của Lễ Ngũ Tuần. Trong Xuất Ê-díp-tô Ký 17, Đức Chúa Trời truyền cho Môi-se cầm gậy — biểu tượng của sự đoán phạt, vì mỗi lần Môi-se giơ gậy lên thì một tai vạ giáng xuống Ê-díp-tô — và đập vầng đá. Khi vầng đá bị đập, nó tuôn ra nước.

Theo I Cô-rinh-tô 10, vầng đá ấy chính là Đức Chúa Giê-su. Ê-sai 53 nói rằng Đức Chúa Giê-su đã “bị đánh, bị Đức Chúa Trời đoán phạt.” Nói cách khác, Đức Chúa Giê-su là vầng đá chịu sự đoán phạt của gậy Đức Chúa Trời thay cho chúng ta. Nhờ đó, vào ngày Lễ Ngũ Tuần, Ngài có thể tuôn đổ Đức Thánh Linh — vì nước tuôn ra từ vầng đá tượng trưng cho Đức Thánh Linh, như I Cô-rinh-tô 12:13 chép: “chúng ta hết thảy đã chịu uống một Thánh Linh.”

Biến cố thứ hai trong Dân Số Ký 20:8–11 còn rõ hơn. Lần này Đức Chúa Trời truyền cho Môi-se chỉ phán cùng vầng đá — tức là phán cùng Đức Chúa Giê-su — chứ không đập nó nữa. Nhưng Môi-se đã đập vầng đá hai lần, vi phạm sự dạy dỗ thiêng liêng. Đức Chúa Giê-su chỉ cần chết một lần để tuôn đổ Đức Thánh Linh. Hôm nay, nếu chúng ta muốn nhận Đức Thánh Linh, Đức Chúa Giê-su không cần phải bị đánh thêm lần nữa — chúng ta chỉ cần cầu xin, và Ngài sẽ ban cho.


Lễ Ngũ Tuần: lửa trên đất công bố sự chấp nhận trên trời

Khi xem xét địa lý đền thánh, chúng ta thấy Đức Chúa Giê-su đã đến cư ngụ giữa chúng ta nơi trại quân, rồi tiến đến hành lang — đến bàn thờ của lễ thiêu, nơi Ngài chịu chết vì tội lỗi chúng ta. Sau đó Ngài phục sinh, được tiêu biểu bằng cái chậu rửa. Bước kế tiếp tự nhiên trong chức vụ của Ngài, theo trật tự của đền thánh, là bước vào nơi thánh.

Điều gì đã xảy ra vào ngày Lễ Ngũ Tuần? Đức Chúa Giê-su đã được dâng làm của lễ, đã chịu chết. Đức Chúa Trời bày tỏ sự chấp nhận của lễ ấy bằng cách sai Đức Thánh Linh giáng xuống — và điều được trông thấy chính là lưỡi như lửa. Biến cố then chốt của ngày Lễ Ngũ Tuần là: Đức Chúa Trời ở trên trời, qua việc sai lửa giáng xuống, đã công bố rằng của lễ là sự sống của Đức Chúa Giê-su đã được chấp nhận. Lửa trên đất là lời tuyên bố rằng của lễ đã được nhận trên trời.

Bà Ellen White viết trong Story of Redemption trang 386:

Sự xé bức màn của đền thờ tỏ ra rằng các của lễ và nghi lễ Do Thái Giáo sẽ không còn được tiếp nhận nữa. Của lễ vĩ đại đã được dâng lên và đã được chấp nhận. Và Đức Thánh Linh, Đấng đã giáng xuống trong ngày Lễ Ngũ Tuần, đã đem tâm trí các môn đồ từ đền thánh trên đất đến đền thánh trên trời, là nơi Đức Chúa Giê-su đã vào bằng chính huyết của Ngài, để tuôn đổ trên các môn đồ những ích lợi của sự chuộc tội của Ngài.

Những ích lợi của sự chuộc tội ấy là gì? Rất đơn giản: đó là sự sống trọn vẹn của Đức Chúa Giê-su và sự chết của Ngài vì tội lỗi. Bằng đời sống vô tội, Đức Chúa Giê-su có một sự sống để dâng cho bất cứ ai đến với Ngài bằng đức tin; bằng cái chết trên thập tự giá, Ngài có một cái chết để kể vào trương mục của bất cứ ai tiếp nhận Ngài làm Cứu Chúa.


Đức Chúa Giê-su trong nơi thánh trên trời

Khi Đức Chúa Giê-su thăng thiên, Ngài đã đi đâu? Theo địa lý của đền thánh, câu trả lời là rõ ràng: Ngài đã vào nơi thánh. Sách Khải Huyền xác nhận điều này. Khải Huyền chương 4 và 5 được viết khoảng năm 95 sau Công Nguyên — hơn sáu mươi năm sau sự phục sinh của Đức Chúa Giê-su.

Khải Huyền 4:5 chép: “Trước ngôi có bảy ngọn đèn lửa thắp cháy, tức là bảy thần linh của Đức Chúa Trời.” Bảy ngọn đèn được đặt ở đâu trong đền thánh? Trong nơi thánh. Vậy ngôi này ở đâu? Cũng ở trong nơi thánh. Số bảy không có nghĩa là có bảy Đức Thánh Linh, mà tượng trưng cho sự đầy trọn — đầy dẫy Đức Thánh Linh.

Trong Khải Huyền 5, Chiên Con xuất hiện. Hai mươi bốn trưởng lão phủ phục, mỗi vị có đàn cầm và bát vàng đầy hương — “đó là những lời cầu nguyện của các thánh.” Hương được dâng tại bàn thờ xông hương trong nơi thánh. Vậy biến cố này diễn ra trong nơi thánh: có bảy ngọn đèn, có bàn thờ xông hương vàng.

Khải Huyền 5:6 là câu chìa khóa: “Tôi nhìn xem, thấy chính giữa ngôi và bốn con sinh vật, cùng chính giữa các trưởng lão, có một Chiên Con ở đó như đã bị giết. Chiên Con có bảy sừng và bảy mắt, là bảy thần linh của Đức Chúa Trời sai xuống khắp đất.” Trong Khải Huyền 4:5, bảy thần linh đứng trước ngôi. Đến Khải Huyền 5, khi Chiên Con xuất hiện, bảy thần linh — sự đầy trọn của Đức Thánh Linh — được sai xuống khắp đất. Đó chính là biến cố Lễ Ngũ Tuần.

Những gì xảy ra trong ngày Lễ Ngũ Tuần là Đức Chúa Trời đã công bố, qua lửa trên đất, rằng trên trời của lễ của Đức Chúa Giê-su đã được chấp nhận vì tội lỗi, và bây giờ đền thánh đã mở cửa để hành lễ.


Đức Chúa Giê-su đã vào nơi thánh, không phải nơi chí thánh

Hê-bơ-rơ 9:12 trong bản King James chép: “Ngài chẳng dùng huyết của dê đực và bò con, nhưng dùng chính huyết mình, vào nơi thánh một lần đủ cả, mà được sự chuộc tội đời đời.” Nhiều bản dịch dịch là “nơi chí thánh” — đó là một sự dịch sai.

Lễ Vượt Qua diễn ra vào đầu mùa xuân theo lịch Hê-bơ-rơ. Lễ Ngũ Tuần diễn ra vào cuối mùa xuân, khoảng tháng năm. Đức Chúa Giê-su có thể bước vào nơi chí thánh khi thăng thiên không? Không, vì nơi chí thánh chỉ được mở vào mùa thu, trong Ngày Đại Lễ Chuộc Tội. Đức Chúa Giê-su tuôn đổ Đức Thánh Linh vào ngày Lễ Ngũ Tuần — một lễ mùa xuân — nên Ngài không thể vào nơi chí thánh khi thăng thiên, vì điều đó chỉ xảy ra vào mùa thu.

Vậy Đức Chúa Giê-su đã làm gì khi lên trời? Hãy hình dung một chủ ngân hàng đầy lòng thương xót, ông ấy nói: “Ta thương xót những người trên đất đang chìm trong nợ nần — nợ nhà, nợ thẻ tín dụng, nợ học phí, nợ xe. Ta sẽ ký gửi vào ngân hàng đủ tiền để trả mọi món nợ của mọi người trên đất.” Nhưng có một điều kiện: mỗi người phải tự đến ngân hàng và xin lấy số tiền ấy. Nếu không đến, người đó vẫn còn nợ.

Khi Đức Chúa Giê-su sống và chết, Ngài đã ký gửi vào ngân hàng thiên đàng đủ tài sản để trả mọi tội lỗi của mọi người đã sống, đang sống và sẽ sống. Nhưng để được tha thứ, mỗi cá nhân phải đến với Đức Chúa Giê-su bằng đức tin, ăn năn, xưng tội, và cầu xin: “Đức Chúa Giê-su ơi, xin lấy sự sống của Ngài và đặt vào trương mục của con; xin lấy cái chết của Ngài và đặt vào trương mục của con.” Khi đó, tội lỗi được tha và Đức Chúa Trời nhìn ta như thể chưa bao giờ phạm tội.


Chức vụ trung bảo hiện tại của Đức Chúa Giê-su

Phần lớn Cơ-đốc nhân nghĩ rằng Đức Chúa Giê-su đã hoàn tất công việc tại thập tự giá. Đúng là sự chuẩn bị cho ơn cứu rỗi đã hoàn tất khi Ngài phán “mọi sự đã được trọn.” Nhưng nếu ơn cứu rỗi đã hoàn tất tại thập tự giá, thì Đức Chúa Giê-su đã làm gì suốt hai ngàn năm qua? Ngài đã mở nơi thánh để mọi người đến và nhận lãnh những gì Ngài đã làm trong hành lang.

I Ti-mô-thê 2:5–6: “Vì chỉ có một Đức Chúa Trời, và chỉ có một Đấng Trung Bảo ở giữa Đức Chúa Trời và loài người, tức là Đức Chúa Giê-su Christ, là người; Ngài đã phó chính mình làm giá chuộc mọi người. Ấy là lời chứng đã làm đúng kỳ.” Động từ “có” ở thì hiện tại — chúng ta cần một Đấng Trung Bảo ngay bây giờ. Việc làm chứng bắt đầu khi Đức Thánh Linh được tuôn đổ và các sứ đồ rao giảng vào ngày Lễ Ngũ Tuần.

I Giăng 2:1: “Nếu có ai phạm tội, thì chúng ta có Đấng cầu thay ở nơi Đức Chúa Cha, là Đức Chúa Giê-su Christ, tức là Đấng Công Bình.” Hê-bơ-rơ 7:25: “Bởi đó Ngài có thể cứu toàn vẹn những kẻ nhờ Ngài mà đến gần Đức Chúa Trời, vì Ngài hằng sống để cầu thay cho những kẻ ấy.” Rô-ma 8:34 cũng nói rằng Đức Chúa Giê-su “hiện đang ngồi bên hữu Đức Chúa Trời, và cũng đang cầu nguyện thế cho chúng ta.”

Mọi tội lỗi có được tha tại thập tự giá không? Phần lớn Cơ-đốc nhân sẽ nói có. Nhưng theo Kinh Thánh, không phải vậy. Sự tha thứ là điều cá nhân. Sự sống và sự chết của Đức Chúa Giê-su mang tính tập thể — sự sống ấy dành cho mọi người, sự chết ấy dành cho mọi người. Nhưng chỉ những ai đến nhận lấy bằng cách cá nhân và riêng tư mới hưởng được lợi ích từ những gì Ngài đã làm.

Lu-ca 24:46–47, lời Đức Chúa Giê-su trong phòng cao tối Phục Sinh: “Có lời chép rằng Đấng Christ phải chịu đau đớn dường ấy, ngày thứ ba sẽ từ kẻ chết sống lại, và người ta sẽ nhân danh Ngài mà rao giảng cho dân các nước sự ăn năn để được tha tội.” Công Vụ Các Sứ Đồ 2:38: “Hãy hối cải, ai nấy phải nhân danh Đức Chúa Giê-su Christ chịu phép báp-tem, để được tha tội mình, rồi sẽ được lãnh sự ban cho Đức Thánh Linh.” Công Vụ Các Sứ Đồ 5:31: Đức Chúa Trời đã đem Đức Chúa Giê-su lên bên hữu Ngài “làm Vua và Cứu Chúa, để ban lòng ăn năn và sự tha tội cho dân Y-sơ-ra-ên.” Sự tha tội đến sau khi Đức Chúa Giê-su thăng thiên.

Công Vụ Các Sứ Đồ 10:43: “Hễ ai tin Ngài thì được sự tha tội vì danh Ngài.” Đó là điều cá nhân. Khi Si-môn Ma-gus muốn mua ơn ban Đức Thánh Linh, Phi-e-rơ quở trách: “Vậy, hãy ăn năn điều ác mình, và cầu nguyện Đức Chúa Trời, hầu cho ý tưởng của lòng ngươi có lẽ được tha cho chăng” (Công Vụ 8:22).

Đức Chúa Giê-su không nghỉ phép suốt hai ngàn năm. Ngài đã và đang tiếp đón từng cá nhân đến với Ngài qua sự ăn năn, xưng tội và tin cậy nơi công đức của Ngài.


Năm điều kiện để nhận sự tha thứ

Điều kiện thứ nhất là sự ăn năn. Phi-e-rơ nói: “Hãy hối cải, ai nấy phải nhân danh Đức Chúa Giê-su Christ chịu phép báp-tem, để được tha tội.” Lu-ca 17:3–4 cho thấy sự ăn năn là điều cá nhân: nếu anh em phạm tội, hãy quở trách; nếu họ ăn năn, hãy tha thứ. Chúng ta không thể biết sự ăn năn có thật hay không — đó là một trong những mục đích của sự phán xét.

Có sự ăn năn giả mạo: hối tiếc vì hậu quả của tội lỗi, chứ không phải vì chính tội lỗi. Khi tôi đánh nhau với chị em và bị cha phạt không cho ăn món tráng miệng, tôi sẽ nói “Cha ơi, con xin lỗi” — không phải vì đã đánh nhau, mà vì sẽ không được ăn bánh. Đó là sự ăn năn giả.

Chúng ta thậm chí không thể tự ăn năn. Sự ăn năn là một ơn ban Đức Chúa Trời ban cho. Công Vụ 5:31 nói Đức Chúa Trời đem Đức Chúa Giê-su lên cao “để ban lòng ăn năn.” Rô-ma 2:4 chép: “sự nhân từ của Đức Chúa Trời đem ngươi đến sự ăn năn.” Khi tôi nhìn thấy Đức Chúa Giê-su tinh sạch, vô tội, và Ngài đã chịu chết vì tôi, lòng tôi tan vỡ vì đã làm Ngài đau lòng. A-đam và Ê-va chỉ thật sự ăn năn khi phải dâng con sinh đầu tiên và hiểu rằng chiên con ấy tượng trưng cho Đức Chúa Giê-su — tội lỗi của họ sẽ giết chết Ngài.

Điều kiện thứ hai là sự xưng tội. Ăn năn là cảm thấy tiếc nuối; xưng tội là nói ra điều ấy. Đa-ni-ên 9:4–5 cho thấy Đa-ni-ên cầu nguyện và xưng tội mình cùng tội của dân sự không hề tìm cớ biện hộ. Thi Thiên 32:5: “Tôi đã thừa nhận tội lỗi tôi cùng Chúa… và Chúa tha tội ác của tôi.” Thi Thiên 38:18: “Tôi sẽ xưng gian ác tôi ra, tôi buồn rầu vì tội lỗi tôi.”

Người con trai hoang đàng được kéo về bằng tình yêu của cha, nhưng khi đến nhà, anh phải nói: “Con đã phạm tội cùng trời và cùng cha, không đáng gọi là con của cha nữa.” Người Pha-ri-si và người thâu thuế đều vào đền cầu nguyện; người thâu thuế đứng xa, đấm ngực, và nói: “Lạy Đức Chúa Trời, xin thương xót lấy tôi, vì tôi là kẻ có tội.” Kinh Thánh chép người ấy được xưng công bình, tức là được tha thứ. I Giăng 1:9 nói rõ: “Nếu chúng ta xưng tội mình, thì Ngài là thành tín công bình để tha tội cho chúng ta.” Châm Ngôn 28:13 dẫn vào điều kiện thứ ba: “Người nào giấu tội lỗi mình sẽ không được may mắn; nhưng ai xưng nó ra và lìa bỏ nó sẽ được thương xót.”

Điều kiện thứ ba là tin cậy nơi công đức của Đức Chúa Giê-su. Sau khi đã ăn năn và xưng tội, chúng ta thưa: “Đức Chúa Giê-su ơi, con là kẻ tội lỗi khốn nạn, nhưng con tin cậy nơi Ngài. Xin lấy sự sống của Ngài và cái chết của Ngài đặt vào trương mục của con.” Công Vụ 10:43, Giăng 3:16, I Giăng 2:1 đều nói rằng ai tin nơi Đức Chúa Giê-su sẽ nhận được sự tha tội qua danh Ngài. Bà Ellen White viết trong Faith and Works trang 106: “Chính sự công bình của Đấng Christ làm cho người tội lỗi biết ăn năn được Đức Chúa Trời chấp nhận và được xưng công bình. Dầu đời sống đã tội lỗi đến đâu, nếu người ấy tin Đức Chúa Giê-su là Cứu Chúa cá nhân, thì người ấy đứng trước mặt Đức Chúa Trời trong áo choàng không tì vết của sự công bình được kể cho người ấy bởi Đấng Christ.”

Điều kiện thứ tư là đức tin sinh ra việc lành. Chúng ta không được cứu bởi việc làm, nhưng được cứu để làm việc lành. Ma quỷ cũng tin rằng Đức Chúa Giê-su đã chết, đã chôn, đã sống lại và đang ở bên hữu Đức Chúa Trời. Nhưng nếu đức tin nơi Đức Chúa Giê-su không biến đổi đời sống, thì đó là mối tương quan giả mạo. Châm Ngôn 28:13 nói người xưng tội và lìa bỏ tội mới được thương xót. Giăng Báp-tít kêu gọi sinh ra “trái xứng đáng với sự ăn năn.” Đức Chúa Giê-su phán: “Bởi trái mà nhận biết được cây.” Gia-cơ 2:14–25 dạy rằng đức tin không có việc làm là đức tin chết.

Đức tin và việc làm có mối tương quan như động cơ và bánh xe. Đức tin là sức đẩy, việc làm là kết quả. Nếu xe truyền động bánh sau, bánh sau đẩy thì bánh trước theo. Nếu đời sống không thay đổi, làm sao có thể nói rằng chúng ta đang theo Đức Chúa Giê-su làm Cứu Chúa và làm Chúa?

Điều kiện thứ năm là phép báp-tem. Phi-e-rơ nói: “Hãy hối cải, ai nấy phải nhân danh Đức Chúa Giê-su Christ chịu phép báp-tem.” Đức Chúa Giê-su đã sống, đã chết, đã được chôn và đã sống lại. Làm sao tôi được kể là chết, được chôn và được sống lại trong Ngài? Qua nghi lễ báp-tem. Trong Ga-la-ti 3, sứ đồ Phao-lô nói rằng những ai tiếp nhận Đức Chúa Giê-su đã chịu báp-tem vào trong Đấng Christ và đã mặc lấy Đấng Christ. Nhờ đó, Đức Chúa Giê-su đến trước mặt Đức Chúa Cha và nói: “Cha ơi, con có một anh em mới.” Và Đức Chúa Cha đáp: “Nếu nó là anh em của Con, thì nó cũng là con của Cha.” Đó là điều Đức Chúa Giê-su muốn nói khi Ngài dạy rằng chúng ta được tiếp nhận qua Ngài.