Bài 5 / 32

Chiên Con Của Đức Chúa Trời Bị Giết

5. The Lamb of God Slain - Pastor Stephen Bohr - His Way Is In The Sanctuary

Ôn lại: Vì sao Đức Chúa Giê-su phải nhập thể

Trong bài học trước, chúng ta đã xem xét bảy lý do vì sao Đức Chúa Giê-su phải đến sống giữa chúng ta trong trại quân với một nhân tánh thật, một nhân tánh hữu tử thật sự.

Thứ nhất, Ngài nhập thể để bày tỏ cho chúng ta biết Đức Chúa Trời thật sự là ai — vì Ngài ở trong lòng Đức Chúa Cha, không ai có thể bày tỏ Đức Chúa Cha rõ hơn Ngài.

Thứ hai, Ngài đến để chết thay cho tội lỗi chúng ta. Đức Chúa Trời là bất tử và không thể chết, nên Đức Chúa Giê-su phải mặc lấy nhân tánh để có thể chết.

Thứ ba, Ngài phải trở nên một con người để có thể bị cám dỗ thật sự, vì Kinh Thánh dạy rằng Đức Chúa Trời không thể bị cám dỗ và không thể bị ma quỷ lừa dối.

Thứ tư, Ngài phải trở nên một con người để chúng ta có sự bảo đảm rằng Ngài cảm thông và thấu hiểu chúng ta khi đại diện chúng ta trước mặt Đức Chúa Trời.

Thứ năm, Ngài phải trở nên một con người để có thể đóng vai trò Đấng Phán Xét công bằng cho chúng ta, để trong sự phán xét không một ai có cớ nào để biện minh cho tội lỗi mình.

Thứ sáu, Ngài đến sống một đời sống trọn vẹn để có thể vừa kể (impute) sự công bình của Ngài cho chúng ta, vừa ban (impart) sự công bình ấy vào lòng chúng ta, để chúng ta có thể sống đời sống mà Đức Chúa Giê-su đã sống.

Thứ bảy, Ngài mặc lấy nhân tánh để chuẩn bị một chỗ cho chúng ta trên thiên đàng và cuối cùng trở lại để rước chúng ta đến với Ngài.


Bước vào sân đền tạm

Chúng ta vẫn chưa bước vào sân của đền tạm. Cho đến giờ chúng ta mới chỉ nói về việc Đức Chúa Giê-su sống trong trại quân, nơi dân Y-sơ-ra-ên cư ngụ. Hôm nay chúng ta sẽ nói về việc Ngài bước vào sân của đền tạm.

Trong sân đền tạm có hai vật dụng chính. Phía xa là bàn thờ của lễ thiêu, đặt ngay khi bước vào sân. Tiến sâu hơn một chút, ngay trước lối vào nơi thánh, là thùng rửa chứa nước, nơi thầy tế lễ rửa mình trước khi vào phục vụ trong nơi thánh.

Hai vật dụng này tượng trưng cho hai biến cố trong cuộc đời Đức Chúa Giê-su. Trại quân tượng trưng cho đời sống của Ngài giữa chúng ta. Bàn thờ của lễ thiêu tượng trưng cho sự chết của Ngài. Còn thùng rửa tượng trưng cho sự phục sinh của Ngài.

Xin lưu ý rằng trên thiên đàng không có sân đền tạm. Lý do là vì công việc của sân đã được Đức Chúa Giê-su hoàn thành tại trần gian: Ngài đã sống giữa chúng ta tại trần gian, đã chết tại trần gian, và đã sống lại tại trần gian. Vì vậy trên thiên đàng chỉ còn nơi thánh và nơi chí thánh. Sân chính là trần gian, nơi Đức Chúa Giê-su đã thực hiện công việc của Ngài như Đấng đã sống, đã chết, và đã sống lại từ kẻ chết.


Vì sao Đức Chúa Giê-su phải sống và phải chết

Luật pháp của Đức Chúa Trời đòi hỏi sự trọn vẹn tuyệt đối. Luật pháp ấy phán: hãy vâng giữ Ta thì sẽ sống; nhưng cũng phán: bất tuân Ta là tội lỗi, và tiền công của tội lỗi là sự chết.

Kinh Thánh tuyên bố rằng mọi người đều đã phạm tội và thiếu mất sự vinh hiển của Đức Chúa Trời, không một ai công bình, dẫu một người cũng không. Vì vậy tất cả chúng ta đều đứng trước án tử.

Đức Chúa Giê-su đến trần gian vì hai mục đích cốt lõi mà tôi muốn nhấn mạnh:

Một là, Ngài đến để sống đời sống mà chúng ta phải sống — một đời sống hoàn toàn hòa hợp với luật pháp của Đức Chúa Trời, và Ngài đã sống đời sống đó thay cho mỗi người.

Hai là, Ngài đến để chết cái chết mà chúng ta phải chết — trả giá cho những tội lỗi chúng ta đã phạm.

Nếu tôi tiếp nhận Đức Chúa Giê-su, Ngài đem đời sống của Ngài kể vào tài khoản của tôi, và đem sự chết của Ngài kể vào tài khoản của tôi. Đức Chúa Trời nhìn tôi như thể tôi chưa từng phạm tội — không phải vì tôi không có tội, mà vì Đức Chúa Giê-su chưa hề phạm tội. Đây là trung tâm và cốt lõi của Tin Lành.


Hình bóng tại núi Mô-ri-a

Cựu Ước có nhiều lời tiên tri báo trước cái chết của Đức Chúa Giê-su tại sân đền tạm. Lời tiên tri đầu tiên được tìm thấy trong Sáng Thế Ký 22, câu chuyện về sự dâng tế Y-sác. Trong câu chuyện này, Áp-ra-ham đóng vai trò Đức Chúa Cha, còn Y-sác đóng vai trò Đức Chúa Giê-su.

“Hãy bắt đứa con một ngươi yêu dấu, là Y-sác, và đi đến xứ Mô-ri-a, nơi đó dâng đứa con làm của lễ thiêu.” (Sáng Thế Ký 22:2)

Từ Hê-bơ-rơ yahid được dịch là “con một” thật ra mang nghĩa độc nhất, đặc biệt, có một không hai. Vì lúc đó Áp-ra-ham đã có Ích-ma-ên, nên Y-sác không phải là con duy nhất theo nghĩa đen, mà là con đặc biệt — con của lời hứa. Áp-ra-ham được lệnh dâng người con yêu dấu này. Lời này gợi nhắc câu phán của Đức Chúa Cha: “Đây là Con yêu dấu của Ta, đẹp lòng Ta mọi đường.”

Một chi tiết đáng chú ý: nỗi thống khổ của Áp-ra-ham và con trai kéo dài ba ngày.

“Qua đến ngày thứ ba, Áp-ra-ham nhướng mắt lên thấy nơi đó từ đàng xa.” (Sáng Thế Ký 22:4)

Khi Đức Chúa Giê-su ở trên trần gian, nỗi thống khổ của Đức Chúa Cha và Con cũng kéo dài ba ngày.

Áp-ra-ham đặt củi trên vai Y-sác, còn chính ông cầm dao và lửa. Đức Chúa Giê-su cũng đã vác lấy cây gỗ mà Ngài bị treo lên, và như Ê-sai 53 nói, Ngài bị chính Cha Ngài đánh phạt.

Khi Y-sác hỏi con sinh ở đâu, Áp-ra-ham đáp:

“Đức Chúa Trời sẽ tự sắm lấy chiên con đặng dùng làm của lễ thiêu.” (Sáng Thế Ký 22:8)

Và rồi Đức Chúa Trời đã sắm một con chiên đực mắc sừng trong bụi rậm để dâng thay cho Y-sác. Đây là một của lễ thay thế hoàn hảo.

Hê-bơ-rơ 11:17–19 cho biết Áp-ra-ham đã nhận lại Y-sác theo nghĩa hình bóng vào ngày thứ ba — như từ kẻ chết sống lại. Một bức tranh tuyệt đẹp về Cha và Con: cùng chịu khổ, cuộc thử thách kéo dài ba ngày, và đến ngày thứ ba người Con được trao lại cho Cha cách sống động.


Chiên Con Lễ Vượt Qua: ngày, tháng, và giờ

Một lời tiên tri khác nằm trong Xuất Ê-díp-tô Ký 12, về chiên con lễ Vượt Qua. Điều đáng kinh ngạc là lời tiên tri này cho biết chính xác ngày, tháng, và giờ chiên con phải bị giết.

“Các ngươi hãy giữ con sinh đó cho đến ngày mười bốn tháng nầy; rồi cả hội chúng Y-sơ-ra-ên sẽ giết nó vào lúc chiều tối.” (Xuất Ê-díp-tô Ký 12:6)

Thành ngữ Hê-bơ-rơ “vào lúc chiều tối” theo nghĩa đen là “giữa hai buổi chiều”. Buổi chiều thứ nhất bắt đầu khi mặt trời đến đỉnh và bắt đầu xuống — tức giữa trưa. Buổi chiều thứ hai là khi mặt trời lặn. Vậy giữa hai buổi chiều chính là ba giờ chiều.

Kinh Thánh chép rằng vào giờ thứ chín, Đức Chúa Giê-su kêu lớn: “Mọi việc đã được trọn… Cha ơi, Con xin giao linh hồn lại trong tay Cha”, rồi tắt hơi. Theo cách tính của người Hê-bơ-rơ, giờ thứ nhất là 6 giờ sáng, giờ thứ ba là 9 giờ sáng, giờ thứ sáu là giữa trưa, giờ thứ chín chính là 3 giờ chiều, và giờ thứ mười hai là khi mặt trời lặn.

Đức Chúa Giê-su không những chết vào ngày 14 tháng Ni-san, mà còn chết đúng vào ba giờ chiều — chính xác như lời tiên tri Lễ Vượt Qua đã chỉ ra.

Tân Ước khẳng định rõ điều này:

“Vì Đấng Christ là con sinh lễ Vượt Qua của chúng ta, đã bị giết rồi.” (1 Cô-rinh-tô 5:7)

Đức Chúa Giê-su chết đúng ngày, đúng tháng, và đúng giờ Lễ Vượt Qua được dâng — một lời tiên tri được viết ra 1.500 năm trước khi Ngài giáng sinh. Người ta thường trầm trồ về các lời tiên tri của Nostradamus, nhưng đó chỉ là những lời mơ hồ cần đến trí tưởng tượng. Kinh Thánh thì chính xác và minh bạch: nó cho chúng ta biết đúng ngày, đúng giờ, và đúng tháng.


Lời tiên tri 70 tuần lễ chỉ ra năm Đấng Mê-si chết

Lễ Vượt Qua cho biết giờ, ngày và tháng. Nhưng có một lời tiên tri khác cho biết năm Đức Chúa Giê-su sẽ chết — đó là lời tiên tri 70 tuần lễ trong Đa-ni-ên 9.

“Sau sáu mươi hai tuần lễ đó, Đấng Chịu Xức Dầu sẽ bị trừ đi, và không có chi hết… Người sẽ lập giao ước vững bền với nhiều người trong một tuần lễ, và đến giữa tuần ấy, người sẽ khiến của lễ và của dâng dứt đi.” (Đa-ni-ên 9:26–27)

Đấng Mê-si bị trừ đi không phải vì chính Ngài, mà vì người khác. Đức Chúa Giê-su bắt đầu chức vụ năm 27 SC khi Ngài chịu báp-tem. Ba năm rưỡi sau, vào giữa tuần lễ cuối cùng, Ngài bị đóng đinh trên thập tự giá. Rồi ba năm rưỡi sau nữa, thời kỳ ân điển khép lại đối với chế độ thần quyền Hê-bơ-rơ. Đức Chúa Giê-su chết chính xác vào năm 31 SC, vào mùa xuân, đúng kỳ Lễ Vượt Qua.

Lời tiên tri cũng nói Ngài sẽ khiến của lễ và của dâng dứt đi. Ellen White trong tác phẩm Desire of Ages đã ghi lại khoảnh khắc Đức Chúa Giê-su chết: bức màn trong đền thờ bị xé ra từ trên xuống dưới, đất rúng động, và:

“Thầy tế lễ sắp giết con sinh tế, nhưng con dao rơi khỏi bàn tay rã rời của ông, và con chiên thoát đi… Hình bóng đã gặp thực thể trong sự chết của Con Đức Chúa Trời. Của lễ vĩ đại đã được dâng.”

Ngày hôm đó không có của lễ nào được dâng. Hình bóng đã gặp thực thể.


Chiên Con không tì vết và Thầy Tế Lễ không tì vết

Nhiều lời tiên tri khác trong Cựu Ước cũng chỉ về sự chết của Đức Chúa Giê-su tại bàn thờ.

Của lễ sớm mai và chiều tối trong Xuất Ê-díp-tô Ký 29:38–39 đòi hỏi mỗi ngày phải dâng một chiên con vào buổi sáng và một chiên con vào lúc “giữa hai buổi chiều” — tức ba giờ chiều — chỉ thẳng tới cái chết của Đức Chúa Giê-su.

Ê-sai 53, viết hơn 700 năm trước khi Đức Chúa Giê-su giáng sinh, mô tả Đấng Mê-si:

“Người đã vì tội lỗi chúng ta mà bị vết, vì sự gian ác chúng ta mà bị thương… và Đức Giê-hô-va đã làm cho tội lỗi của hết thảy chúng ta đều chất trên người.” (Ê-sai 53:5–6)

Khi hoạn quan Ê-thi-ô-bi đang đọc đoạn này và không hiểu, Phi-líp đã “giảng cho người về Đức Chúa Giê-su” (Công Vụ 8:35). Phi-e-rơ cũng áp dụng Ê-sai 53 cho Đức Chúa Giê-su trong 1 Phi-e-rơ 2:23–24.

Lê-vi Ký 22:20–22 đòi hỏi chiên con phải không tì vết, không tật bệnh. Vì chiên là loài vật, người ta chỉ có thể kiểm tra khiếm khuyết thể chất, nhưng điều đó tượng trưng cho việc Đức Chúa Giê-su không có khiếm khuyết đạo đức nào. Hình bóng không bao giờ rõ ràng bằng thực thể mà nó chỉ tới.

Lê-vi Ký 21:17–21 cũng đòi hỏi thầy tế lễ phải không tì vết. Cả chiên con lẫn thầy tế lễ đều tượng trưng cho Đức Chúa Giê-su, vì Ngài vừa là Thầy Tế Lễ vừa là Chiên Con — chính Ngài dâng chính Ngài.

“Ấy đó thật là thầy tế lễ thượng phẩm mà chúng ta có cần dùng, thánh khiết, không tội, không ô uế, biệt khỏi kẻ có tội… Vì Ngài đã vì việc đó mà dâng chính mình Ngài làm của tế lễ, chỉ một lần đủ cả.” (Hê-bơ-rơ 7:26–27)

“Anh em đã được chuộc… bởi huyết báu Đấng Christ, dường như huyết của chiên con không lỗi không vít.” (1 Phi-e-rơ 1:18–19)

Đức Chúa Giê-su là Thầy Tế Lễ không tì vết, là Chiên Con không tì vết, và Ngài chủ tế chính của lễ của Ngài. Khi sống lại, Ngài còn đem chính huyết của mình với tư cách Thầy Tế Lễ vào nơi thánh.


Cái chết cho cả thế gian

Một điểm cần làm rõ: những gì Đức Chúa Giê-su đã làm trong trại quân và trong sân là làm cho mọi người từng sống trên đất — không chỉ riêng cho người được cứu. Đời sống và sự chết của Ngài có giá trị cho mỗi người từng thở hơi sống.

“Chúng ta thấy Đức Chúa Giê-su… bởi ân điển của Đức Chúa Trời, vì mọi người mà nếm sự chết.” (Hê-bơ-rơ 2:9)

“Có một Đức Chúa Trời và một Đấng Trung Bảo… là Đức Chúa Giê-su Christ, là người, Ngài đã phó chính mình làm giá chuộc mọi người.” (1 Ti-mô-thê 2:5–6)

“Ngài làm của lễ chuộc tội lỗi chúng ta, không những vì tội lỗi chúng ta thôi đâu, mà cũng vì tội lỗi cả thế gian nữa.” (1 Giăng 2:2)

Ellen White viết trong Desire of Ages trang 753:

“Tội lỗi của hết thảy chúng ta đã chất trên Đấng Christ, là Đấng thay thế và bảo lãnh chúng ta. Ngài đã bị kể là kẻ phạm pháp để chuộc chúng ta khỏi sự đoán phạt của luật pháp. Tội lỗi của mỗi con cháu A-đam đè nặng trên lòng Ngài. Cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời nghịch cùng tội lỗi… đã khiến tâm hồn Con Ngài kinh hoàng… Sự đau đớn của Ngài lớn đến nỗi sự đau đớn thể xác hầu như không được cảm thấy.”

Nếu Ngài chết cho cả thế gian, vậy có phải mọi người sẽ được cứu không? Câu Kinh Thánh nổi tiếng nhất bao gồm tất cả nhưng cũng loại trừ một số:

“Vì Đức Chúa Trời yêu thương thế gian, đến nỗi đã ban Con một của Ngài, hầu cho hễ ai tin Con ấy không bị hư mất mà được sự sống đời đời.” (Giăng 3:16)

Ngay trước câu này, Đức Chúa Giê-su nhắc lại hình ảnh con rắn bằng đồng được treo lên trong đồng vắng. Việc treo rắn lên không đủ — mỗi người Y-sơ-ra-ên phải ngước nhìn thì mới được chữa lành. Cũng vậy, việc Đức Chúa Giê-su chết là chưa đủ; chúng ta phải lấy đức tin nhìn xem Ngài.


Thùng rửa: sự phục sinh

Thùng rửa tượng trưng cho sự phục sinh của Đức Chúa Giê-su. Theo luật, ai đụng đến xác chết bị xem là ô uế. Khi Đức Chúa Giê-su chết, theo nghĩa hình bóng Ngài cũng bị kể là ô uế và cần được tẩy sạch — và sự tẩy sạch đó diễn ra tại sự phục sinh, tại thùng rửa.

“Ngài cứu chúng ta… bởi sự rửa về sự lại sanh và sự đổi mới của Đức Thánh Linh.” (Tít 3:5)

Từ Hy Lạp được dịch là “sự lại sanh” là palingenesia — ghép từ palin (lại, một lần nữa) và genesis (khởi đầu). Nghĩa đen là bắt đầu lại, tái sinh. Đức Chúa Giê-su “bắt đầu lại” khi nào? Khi Ngài sống lại từ kẻ chết.

Từ “đổi mới” (kainotēs) cũng được dùng trong Rô-ma 6:4:

“Chúng ta đã bị chôn với Ngài bởi phép báp-tem trong sự chết Ngài, hầu cho Đấng Christ nhờ vinh hiển của Cha được từ kẻ chết sống lại thể nào, thì chúng ta cũng sống trong đời mới thể ấy.”

Vậy “sự rửa về sự lại sanh và sự đổi mới của Đức Thánh Linh” trong Tít 3:5 chính là sự phục sinh. Tại thùng rửa, Đức Chúa Giê-su sống lại với thân thể vinh hiển, bất tử, không hư nát.


Bước kế tiếp: nơi thánh

Đức Chúa Giê-su đã sống đời sống trọn vẹn trong trại quân với tư cách vừa là Thầy Tế Lễ trọn vẹn vừa là Chiên Con trọn vẹn. Rồi Ngài đến bàn thờ của lễ và dâng chính mình. Tại thùng rửa, Ngài được phục sinh trong đời sống mới.

Vậy bước kế tiếp Ngài đi về đâu? Hầu hết Cơ-đốc Nhân tin rằng Đức Chúa Giê-su nhảy thẳng từ sân vào nơi chí thánh. Nhưng giữa sân và nơi chí thánh có nơi thánh. Đức Chúa Giê-su có nhảy qua nơi thánh không? Tuyệt đối không.

Ngài có một chức vụ phải hoàn thành nơi có chân đèn bảy ngọn, nơi có bàn bánh trần thiết, và nơi có bàn thờ xông hương. Cả ba vật dụng này đều tượng trưng cho điều quan trọng liên quan đến mối tương giao giữa Đức Chúa Giê-su và dân sự Ngài.

Nếu hỏi một Cơ-đốc Nhân ngày nay rằng Đức Chúa Giê-su đã làm gì trong 2.000 năm qua, đa số sẽ ngập ngừng. Với hầu hết Cơ-đốc Nhân, mọi việc đã hoàn tất khi Đức Chúa Giê-su chết trên thập tự giá. Nhưng không phải vậy. Ngài đã sống trong trại quân, đã chết trong sân, đã sống lại tại thùng rửa, và bây giờ Ngài bước vào nơi thánh — rồi sau đó vào nơi chí thánh.

Chính tại nơi thánh, chúng ta có thể nhận lãnh các phước hạnh của những gì Đức Chúa Giê-su đã làm khi Ngài còn ở trên đất.