Bài 10 / 20

Đền Thánh — Công Cụ Giải Kinh Toàn Cảnh

10. THE SANCTUARY AS A MACRO-HERMENEUTICAL TOOL for Adventist Theology - Daniel Miranda || SUMMIT'24

Một nền tảng vững chắc — bài học từ một thảm hoạ

Ngày 24 tháng 6 năm 2021, vào khoảng 1 giờ 22 phút sáng, toà nhà chung cư Champlain Towers South cao 12 tầng tại Surfside, Miami, đã sụp đổ một phần, khiến 98 người thiệt mạng. Điều tra sau đó cho thấy nguyên nhân chính là sự xuống cấp lâu dài của các kết cấu bê-tông cốt thép ở tầng hầm: nước rò rỉ làm ăn mòn cốt thép, làm yếu toàn bộ kết cấu, và rồi giữa đêm, công trình đổ sụp.

Vấn đề là một nền móng đã bị tổn hại. Cùng một bài học áp dụng cho thần học: nếu nền móng yếu, toàn bộ ngôi nhà đức tin sẽ sụp đổ.

Sứ đồ Phao-lô viết trong 1 Cô-rinh-tô 3:9–15:

Vì chúng tôi là bạn cùng làm việc với Đức Chúa Trời; anh em là ruộng của Đức Chúa Trời cày, nhà của Đức Chúa Trời xây… Tôi đã lập nền như một thợ cả khôn ngoan, mà có kẻ khác cất lên trên; nhưng ai nấy phải cẩn thận về sự mình xây trên nền đó. Vì, chẳng ai có thể lập một nền khác ngoài nền đã lập, là Đức Chúa Giê-su Christ.

Phao-lô liệt kê sáu vật liệu xây dựng: vàng, bạc, đá quý, gỗ, cỏ khô, rơm rạ. Ba thứ đầu không cháy; ba thứ sau bị cháy. Lửa sẽ thử nghiệm chất lượng của công trình. Vậy, điều thiết yếu là chúng ta đang xây trên nền nào.


Vấn đề đa nguyên thần học và ba tầng giải kinh

Nếu Đức Chúa Giê-su là nền duy nhất, vì sao theo Trung tâm Nghiên cứu Cơ-đốc Giáo Toàn cầu, hiện có hơn 200 hệ phái Cơ-đốc tại Hoa Kỳ và khoảng 45.000 hệ phái trên toàn thế giới? Tất cả đều xưng nhận theo Đức Chúa Giê-su, nhưng lại có những khác biệt rất lớn về giáo lý.

Vấn đề cốt lõi là đa nguyên thần học: cùng đọc một quyển Kinh Thánh, nhưng người ta xuất phát từ những tiền giả định khác nhau, dẫn đến những kết luận khác nhau. Như Thomas Aquinas đã nói, một sai lầm nhỏ ở khởi đầu sẽ trở thành sai lầm lớn ở cuối cùng.

Giải kinh học (hermeneutics) — nghệ thuật giải nghĩa Kinh Thánh — vận hành ở ba tầng:

  • Tầng vi mô (micro): giải nghĩa từng câu, từng phân đoạn cụ thể; phân tích từ vựng, ngữ pháp, bối cảnh lịch sử của bản văn. Đây là công việc chú giải.
  • Tầng trung mô (meso): tổng hợp các bản văn để hình thành các giáo lý — chẳng hạn 28 Tín Điều Căn Bản của Hội Thánh Cơ-đốc Phục Lâm.
  • Tầng vĩ mô (macro): những tiền giả định lớn nhất, chi phối toàn bộ hệ thống giải kinh; tìm cách kết nối mọi giáo lý lại thành một hệ thống mạch lạc, như chiếc xương sống nâng đỡ toàn bộ cơ thể giáo lý.

Tín hữu thường chỉ tiếp xúc với hai tầng đầu qua các bài giảng. Tầng vĩ mô là lĩnh vực của các nhà thần học hệ thống, và đây chính là nơi các khác biệt thần học lớn nhất bắt nguồn.


Bốn mô hình thần học trong lịch sử

Khi nói Sola Scriptura (chỉ Kinh Thánh mà thôi), Cơ-đốc Phục Lâm hiểu nguyên tắc này một cách triệt để hơn các truyền thống khác. Luther tin Sola Scriptura nhưng lại từng gọi sách Gia-cơ là “sách rơm rạ” vì nó dường như nghịch lại học thuyết xưng công bình bởi đức tin của ông. Cơ-đốc Phục Lâm còn bổ sung Tota Scriptura — lấy toàn bộ Kinh Thánh, không thiên vị Cựu Ước hay Tân Ước — và Prima Scriptura — bắt đầu từ Kinh Thánh, sau đó mới thử nghiệm các nguồn khác bằng Kinh Thánh.

Lịch sử có bốn mô hình thần học chính, mỗi mô hình khởi đi từ một quan niệm khác nhau về Đức Chúa Trời:

1. Mô hình cổ điển (Augustine, Thomas Aquinas, có gốc rễ trong triết học Plato). Đức Chúa Trời được xem là vô thời gian (timeless) — không trải nghiệm quá khứ, hiện tại hay tương lai. Quan niệm này dẫn đến nhị nguyên giữa một Đức Chúa Trời vô thời gian và một thực tại tạm thời, kéo theo học thuyết về linh hồn bất tử (linh hồn vô thời gian, thân xác tạm thời).

2. Mô hình Cải Chánh. Phao-lô và Luther bác bỏ một số sắc thái của thần học cổ điển và lấy sự xưng công bình bởi đức tin làm nguyên lý kết nối. Tuy nhiên, họ không bác bỏ học thuyết linh hồn bất tử và quan niệm Đức Chúa Trời vô thời gian.

3. Mô hình hiện đại (từ Descartes và Thời Khai Sáng). Mặc khải được xem là một cuộc gặp gỡ phi nhận thức với Đức Chúa Trời; lời của các tiên tri chỉ là cách họ mô tả kinh nghiệm cá nhân, do đó không có thẩm quyền tuyệt đối. Đây là cội rễ của phương pháp phê bình cao cấp (higher criticism).

4. Mô hình Kinh Thánh — đóng góp riêng của Cơ-đốc Phục Lâm. Đức Chúa Trời không phải vô thời gian; Ngài là đời đời, nhưng có trải nghiệm thời gian — quá khứ, hiện tại, tương lai — theo cách khác với loài thọ tạo.

Nếu Đức Chúa Trời thật sự vô thời gian, hệ luỵ sẽ là: không thể có sự sáng tạo trong sáu ngày theo trình tự, không thể có học thuyết về đền thánh (vì Đức Chúa Trời không thể bước vào lịch sử nhân loại), và cũng không thể có sự nhập thể của Đức Chúa Giê-su.


Đa-ni-ên 8:14 và sự thanh tẩy đền thánh

Kẻ chủ mưu gây ra sự lẫn lộn thần học trong Cơ-đốc Giáo được mô tả trong Đa-ni-ên 8:12–13: cái sừng nhỏ “quăng lẽ thật xuống đất” và “giày đạp đền thánh cùng cơ binh”. Câu trả lời nằm ở Đa-ni-ên 8:14:

Cho đến hai ngàn ba trăm buổi chiều và buổi mai; sau đó nơi thánh sẽ được thanh sạch.

Từ tiếng Hê-bơ-rơ nitsdaq được dịch là “thanh sạch” rất khó dịch chính xác. Bản King James ghi chú bên lề rằng từ này cũng có thể dịch là “được xưng công bình”. Nitsdaq mang ba sắc thái nghĩa căn bản:

  • Phục hồi (theo Ê-sai 46:13)
  • Thanh tẩy (theo Gióp 4:17)
  • Minh oan, biện hộ (theo Ê-sai 50:8)

Ba sắc thái này tương ứng chính xác với ba vấn đề được nêu trong Đa-ni-ên 8: của tế lễ hằng ngày bị cất đi, sự vi phạm, và sự giày đạp đền thánh cùng cơ binh.

Học thuyết về đền thánh đưa ra giải pháp cho cả ba: phục hồi của lễ hằng ngày — tức Tin Lành về sự hy sinh của Đức Chúa Giê-su (đã bị thay thế bởi học thuyết biến thể trong Thánh Lễ Mi-sa); thanh tẩy sự vi phạm — không phải bởi các bí tích hay việc làm, mà bởi công tác của Đức Chúa Giê-su; và minh oan đền thánh cùng cơ binh — khôi phục Đức Chúa Giê-su là Thầy Tế Lễ Thượng Phẩm duy nhất, thay thế cho hệ thống các thầy tế lễ trung gian của loài người.

Ellen G. White viết về đề tài này:

Vấn đề đền thánh là chìa khoá mở ra mầu nhiệm của sự thất vọng năm 1844. Nó mở ra cho thấy một hệ thống lẽ thật toàn vẹn, kết nối và hoà hợp.

Đây chính là nền tảng cho thần học hệ thống — hệ thống mà Đức Chúa Trời đã bày tỏ cho Hội Thánh để xây dựng giáo lý.


Đền thánh xuyên suốt Kinh Thánh

Để một học thuyết có thể vận hành như hệ thống kết nối toàn bộ Kinh Thánh, nó phải hiện diện xuyên suốt Kinh Thánh. Đền thánh đáp ứng tiêu chí này — bắt đầu ngay từ Vườn Ê-đen.

Sáng Thế Ký 2:8 nói Đức Chúa Trời đã “trồng một cảnh vườn tại Ê-đen”. Khi Ê-xê-chi-ên 28 mô tả sự phản loạn của Lu-xi-phe, ba từ Hê-bơ-rơ giống hệt được dùng: “Ngươi vốn ở trong Ê-đen, là vườn của Đức Chúa Trời.” Vườn Ê-đen trên đất là bản sao của một thực tại nguyên gốc nơi nơi ngự của Đức Chúa Trời.

Nhiều chi tiết trong Ê-xê-chi-ên 28 chỉ về đền thánh: các loại đá quý mà chê-ru-bim che phủ đeo trùng khớp với các loại đá trên bảng đeo ngực của thầy tế lễ thượng phẩm; “chê-ru-bim được xức dầu, che phủ” gợi đến các chê-ru-bim trên Hòm Giao Ước; “núi thánh” và “núi của Đức Chúa Trời” là các mô-típ quen thuộc về đền thánh.

Trước khi tội lỗi xâm nhập, đền thánh chỉ có chức năng thờ phượng — không có chức năng cứu chuộc, vì chưa có tội. Sau khi loài người sa ngã, đền thánh có thêm chức năng cứu chuộc.

Ellen G. White viết trong Tổ Phụ và Tiên Tri trang 62:

Vườn Ê-đen còn lại trên mặt đất rất lâu sau khi loài người đã trở nên kẻ bị đuổi khỏi những lối đi xinh đẹp của nó… nơi đó vinh hiển của Đức Chúa Trời đã được bày tỏ. Nơi đó A-đam và các con trai đã đến để thờ phượng Đức Chúa Trời.


Bốn chức năng của đền thánh

1. Phục hồi sự thông công giữa Đức Chúa Trời và loài người. Sáng Thế Ký 3:21 ghi rằng ngay sau khi A-đam và Ê-va phạm tội, “Giê-hô-va Đức Chúa Trời lấy da thú kết thành áo dài cho vợ chồng A-đam.” Đây là ám chỉ đầu tiên về của lễ hy sinh. Khải Huyền 13:8 nói về “Chiên Con đã bị giết từ buổi sáng thế”. Trong Xuất Ê-díp-tô Ký 25:8, Đức Chúa Trời phán: “Họ sẽ làm cho Ta một đền thánh và Ta sẽ ở giữa họ.” Đức Chúa Giê-su là sự thành toàn trọn vẹn — Em-ma-nu-ên, “Đức Chúa Trời ở cùng chúng ta” (Ma-thi-ơ 1:23). Giăng 1:14 dùng động từ Hy-lạp skēnoō, nghĩa đen là “dựng trại” hay “đặt đền tạm” giữa chúng ta.

2. Bày tỏ Đức Chúa Giê-su. Thi Thiên 29:9 chép: “trong đền Ngài mọi vật đều hô rằng: Vinh hiển thay!” Mỗi vật dụng trong đền thánh, mỗi tấm rèm, mỗi của lễ, mỗi kỳ lễ đều bày tỏ Đức Chúa Giê-su. Khi đền thánh tại Giê-ru-sa-lem bị quân Ba-by-lôn phá hủy, Đức Chúa Trời phán trong Ê-xê-chi-ên 11:16 rằng chính Ngài sẽ trở thành “đền thánh nhỏ” cho dân Ngài tại các xứ họ bị tản lạc đến.

3. Bày tỏ chương trình cứu rỗi. Thi Thiên 77:13: “Lạy Đức Chúa Trời, đường lối Chúa ở trong nơi thánh.” Ba khu vực của đền thánh tương ứng với ba bước trong kinh nghiệm cứu rỗi: hành lang ngoài tương ứng với sự xưng công bình; nơi thánh tương ứng với sự nên thánh; nơi chí thánh tương ứng với sự được vinh hiển.

4. Là trung tâm của sự thờ phượng. Đa-ni-ên khi ở Ba-by-lôn đã hướng mặt về Giê-ru-sa-lem khi cầu nguyện, theo lời cầu nguyện cung hiến đền thờ của vua Sa-lô-môn. Thi Thiên 138:2 chép: “Tôi sẽ thờ lạy hướng về đền thánh của Chúa.”


Những bổn phận mới được bày tỏ

Khi các nhà tiên phong Cơ-đốc Phục Lâm được Đức Chúa Trời mở mắt để hiểu công tác của Đức Chúa Giê-su trong nơi chí thánh, họ khám phá ra các lẽ thật được bày tỏ qua những vật chứa trong Hòm Giao Ước: bảng luật pháp của Đức Chúa Trời, cây gậy A-rôn, và bình đựng ma-na.

Từ luật pháp trong Hòm Giao Ước, họ khám phá lại lẽ thật về ngày Sa-bát. Mặc dù những người Báp-tít Ngày Thứ Bảy đã giữ Sa-bát, nhưng chính qua học thuyết về đền thánh mà Joseph Bates và các nhà tiên phong khác hiểu ra rằng Sa-bát có một ý nghĩa cánh chung — sẽ là điểm thử nghiệm trong ngày sau rốt giữa dấu của con thú và ấn của Đức Chúa Trời. Ellen G. White được ban cho một khải tượng thấy Mười Điều Răn với một vầng hào quang đặc biệt bao quanh điều răn thứ tư.

Qua đền thánh, Hội Thánh cũng nhận được:

  • Lẽ thật về ba thiên sứ trong Khải Huyền
  • Lẽ thật về linh hồn không bất tử
  • Sứ điệp sức khoẻ (1863) — được biểu trưng bởi bình ma-na trong Hòm Giao Ước
  • Sứ điệp giáo dục đích thực (1872)
  • Sứ điệp xưng công bình bởi đức tin (1888)
  • Lẽ thật rằng Đức Chúa Trời không cô độc — có Con Ngài ngự cùng

Ellen G. White viết trong Cuộc Đại Tranh Đấu trang 423:

Ánh sáng từ đền thánh soi sáng quá khứ, hiện tại và tương lai. Họ biết rằng Đức Chúa Trời đã dẫn dắt họ bằng sự quan phòng không hề sai sót của Ngài… nhưng dân chúng chưa sẵn sàng để gặp Chúa. Vẫn còn một công việc chuẩn bị phải hoàn thành cho họ. Ánh sáng phải được ban cho, hướng tâm trí họ đến đền thờ Đức Chúa Trời ở trên trời; và khi họ bởi đức tin theo Thầy Tế Lễ Thượng Phẩm của mình trong công việc cứu chuộc nơi đó, các bổn phận mới sẽ được bày tỏ.

Đức Chúa Trời đã chuẩn bị Hội Thánh cho một điều lớn lao — Ngài muốn tuôn đổ Đức Thánh Linh để hoàn tất công việc của Ngài. Nhưng để nhận được sự tuôn đổ ấy, chúng ta phải tiếp nhận những bổn phận mới được bày tỏ qua đền thánh.