Những Elohim Ý Thức Hệ
Đức Tin Đã Được Truyền Một Lần Đủ Cả
Sứ đồ Giu-đe, em cùng mẹ khác cha với Đức Chúa Giê-su, mở đầu thư của mình bằng một lời kêu gọi đầy khẩn thiết:
“Hỡi kẻ rất yêu dấu, vì tôi đã ân cần viết cho anh em về sự cứu rỗi chung của chúng ta, tôi tưởng phải làm điều đó, để khuyên anh em vì đạo mà tranh chiến, là đạo đã truyền cho các thánh một lần đủ rồi.” (Giu-đe 3)
Thoạt đọc, người ta dễ hiểu rằng đạo được truyền cho các thánh chỉ một lần. Nhưng điều Giu-đe muốn nói còn sâu hơn: toàn bộ sứ điệp đã được trao cho các thánh — một lần, cho mọi thời đại. Đó là đặc ân khi chúng ta được rao giảng trọn vẹn bức tranh lẽ thật của Kinh Thánh.
Phần lớn những gì sẽ trình bày dưới đây được rút ra từ tác phẩm của Maimonides (Moses Ben Maimon), một thần học gia Do Thái Giáo lỗi lạc thời trung cổ — vừa là triết gia, luật gia, y sĩ, kinh sư, vừa là một rabi nổi tiếng. Ông sống vào thế kỷ XII–XIII và có thể được ví như Tyndale, Luther và Wycliffe của Do Thái Giáo gộp lại.
“Ta Là Giê-hô-va Đức Chúa Trời Ngươi”
Xuất Ê-díp-tô Ký 20 mở đầu Mười Điều Răn bằng một lời tự xưng:
“Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, đã rút ngươi ra khỏi xứ Ê-díp-tô, là nhà nô lệ. Trước mặt ta, ngươi chớ có các thần khác.” (Xuất Ê-díp-tô Ký 20:2-3)
Hiểu Kinh Thánh đúng đắn đòi hỏi phải nắm bắt bối cảnh: thời đại, dân tộc, và cách nhìn vũ trụ của con người ở thời ấy. Khung bối cảnh ấy được dệt nên bởi một lẽ thật xuyên suốt: Đức Chúa Trời luôn tìm cách thiết lập sự thân mật với dân Ngài.
Đức Chúa Trời chủ động. Ngài khao khát. Ngài muốn xây dựng và gìn giữ mối tương giao gần gũi với thế gian nói chung và với các thánh đồ nói riêng. Mọi điều răn, mọi luật lệ, mọi mạng lệnh, mọi lời cấm, mọi phước hạnh, mọi lời hứa, mọi lời tiên tri đều được ban ra như một nỗ lực để Ngài đến gần con cái Ngài hơn — bởi tình yêu hoạt động hiệu quả nhất khi nó hoạt động ở khoảng cách gần.
Từ ngày Đức Chúa Trời bảo Áp-ra-ham hãy ra mà đếm các vì sao trên trời (Sáng Thế Ký 15:5), đến lúc viên đá đầu tiên giáng xuống vầng trán thánh hóa của Ê-tiên mười tám thế kỷ sau, có một điều đặc biệt mà Đức Giê-hô-va muốn thực hiện cho, vì, qua và với dân Do Thái — vì cả thế gian.
Một Chữ Elohim — Hai Ý Nghĩa Đối Lập
Trong Xuất Ê-díp-tô Ký 20:2 và 20:3, hai chữ “Đức Chúa Trời” và “các thần” trong nguyên ngữ Hê-bơ-rơ là cùng một chữ: Elohim. Cùng một từ — lúc thì chỉ Đức Giê-hô-va, lúc thì chỉ các tà thần.
Elohim là từ phổ biến nhất chỉ Đức Chúa Trời trong Cựu Ước, được nhiều rabi xem như danh xưng quốc gia — biểu thị chức vị thần linh. Trong khi đó, El là chính danh của Đức Chúa Trời người Do Thái, nhưng đồng thời cũng là tên thần đứng đầu trong điện thờ Ca-na-an. Người Do Thái mượn thuật ngữ ấy: “Thần các ngươi là El, thần chúng tôi cũng là El — nhưng cao hơn một bậc.”
Vậy làm sao phân biệt? Câu trả lời nằm ở bối cảnh ngữ pháp:
- Số nhiều (Elohim) đi với động từ số ít → đang nói về Đức Chúa Trời chân thật.
- Số nhiều đi với số nhiều → đang nói về các thần giả.
Ngay câu đầu tiên của Kinh Thánh, Bereshit bara Elohim — “Ban đầu Đức Chúa Trời dựng nên” — chữ Elohim ở dạng số nhiều, nhưng động từ ở số ít: đó là Đức Chúa Trời chân thật. Câu Shema nổi tiếng trong Phục Truyền Luật Lệ Ký 6:4 cũng vậy: “Hỡi Y-sơ-ra-ên! hãy nghe: Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta là Giê-hô-va có một không hai.”
Sau bốn trăm năm làm nô lệ ở Ê-díp-tô, đám đông hỗn tạp ấy bước ra khỏi xa mạc với thế giới quan đảo lộn, được giới thiệu lại với một Đức Chúa Trời chân thật. Mọi điều khác — Ngài muốn họ hiểu — đều là hư cấu. Đáng sợ là không biết Đức Chúa Trời; nhưng còn đáng sợ hơn là biết Ngài rồi vẫn sống như Ngài không tồn tại.
1844 Và Cuộc Tổng Phản Công Của Sa-tan
Việc tôn thờ con người không phải chuyện mới, nhưng nó tăng tốc một cách kỳ lạ vào giữa thế kỷ XIX. Thật đáng kinh ngạc khi truy ngược nguồn gốc cuộc đăng quang của con người vào địa vị thần linh — và sự suy đồi tương ứng của nhân loại — về tận điểm kết thúc của lời tiên tri 2.300 ngày, khi Đức Chúa Giê-su bước vào Nơi Chí Thánh để hoàn tất công việc cứu chuộc.
Trong những ngày quanh phong trào 1844, thiên đàng tăng tốc — và Sa-tan cũng vậy. Đức Chúa Trời có những chiến binh trẻ của Ngài: Ellen G. Harmon, James Springer White, Joshua V. Himes và nhiều người khác. Sa-tan cũng dấy lên đội ngũ của mình:
- Karl Marx sinh năm 1818.
- Friedrich Engels sinh không lâu sau đó.
- Ralph Waldo Emerson sinh năm 1803.
- Henry David Thoreau sinh năm 1820.
- Charles Darwin sinh cùng năm với Joshua Himes.
Năm 1831 — chính năm William Miller bắt đầu rao giảng sự tái lâm của Đức Chúa Giê-su — Darwin lên tàu HMS Beagle với tư cách một nhà tự nhiên học không lương. Năm 1836, ông trở về và tự thuyết phục mình rằng nhân loại là sản phẩm của tiến hóa — cái mà ông gọi là “chọn lọc tự nhiên”.
Khi cuốn Nguồn Gốc Các Loài được xuất bản năm 1859 — chỉ hai năm trước khi Hội Thánh Cơ-đốc Phục Lâm chính thức nhận tên — bản in đầu tiên bán hết trong một ngày, và năm lần tái bản nối nhau. Một học giả đã nhận xét: “Với việc xuất bản Nguồn Gốc, nhân loại cuối cùng đã thoát khỏi bàn tay của Đức Chúa Trời.”
Sa-tan không dừng ở đó. Năm 1848 — một năm bản lề đối với những người Cơ-đốc Phục Lâm sau cuộc Đại Thất Vọng — Marx và Engels phát hành Tuyên Ngôn Cộng Sản, văn kiện sau đó truyền cảm hứng cho hàng loạt nhà độc tài thế kỷ XX: Lenin, Stalin, Hitler, Mussolini, Pol Pot. Khi đã loại Đức Chúa Trời ra khỏi bức tranh, sinh mạng con người trở nên không khác gì sinh mạng một con vật.
Một tháng sau cuộc Đại Thất Vọng, Marx và Engels phát hành Gia Đình Thánh — một tác phẩm châm biếm gay gắt nhằm vào gia đình, tôn giáo và chính Đức Chúa Trời. Engels sống chung với một phụ nữ cho đến khi bà qua đời mà không hề kết hôn, và dạy rằng hôn nhân là điều “phi tự nhiên, phi đạo đức và đầy giả dối”.
Năm 1882, Nietzsche tuyên bố: “Đức Chúa Trời đã chết.” Khoa học là cái móc kéo Đức Chúa Trời xuống khỏi ngôi của Ngài. Một thần học mới ra đời: con người hiện đại không còn dám nói “Đức Chúa Trời đã chết”, nhưng đã âm thầm chuyển sang “Đức Chúa Trời là không cần thiết.”
Chúng ta có khoa học, máy tính, toán học, nghệ thuật, y học, kỹ thuật, văn chương, bằng cấp. Chúng ta cần gì Đức Chúa Trời nữa? Rô-ma 1:25 đã nói trước về điều đó: “Họ tự xưng mình là khôn ngoan, mà trở nên điên dại.”
Hãy ghi nhớ điều này: hiểu biết về đền thánh là món quà đặc biệt Đức Chúa Trời ban cho Hội Thánh Cơ-đốc Phục Lâm. Không tôn giáo nào khác rao giảng đền thánh như chúng ta. Đền thánh đặt chúng ta vào dòng thời gian, cho biết điều gì đang xảy ra trên thiên đàng và dưới đất, và cho cái nhìn về thời điểm mọi sự sẽ kết thúc.
Bốn Elohim Ý Thức Hệ Của Thời Đại
Sứ đồ Phao-lô viết cho Ti-mô-thê: “Trong ngày sau-rốt, sẽ có những thời-kỳ khó-khăn. Vì người ta đều tư-kỷ” (2 Ti-mô-thê 3:1-2). “Tư kỷ” — yêu chính mình — không nói về tình dục đồng giới, mà nói về việc loài người sẽ thay thế Đức Chúa Trời bằng tình yêu dành cho con người: thành tựu của con người, tư duy của con người, trí óc của con người. Chúng ta nâng con người lên địa vị của Đức Chúa Trời.
Có bốn ý thức hệ chính đã trở thành các elohim thống trị thế giới hôm nay. Tất cả đều được thiết kế để thờ phượng con người và làm mất uy tín Đức Chúa Trời.
1. Ngẫu Nhiên — Tất Cả Là Nhân Quả
Mọi sự xảy ra đều là kết quả của nhân-quả. Không cần viện đến quyền năng siêu nhiên nào. Hai trăm người ứng tuyển một công việc — tôi được nhận, 199 người kia thì không. Chỉ có hai lý do: hoặc tôi giỏi hơn, hoặc tôi may mắn. Đức Chúa Trời không liên quan.
Nhiều người, kể cả nhiều Cơ-đốc nhân, sống đúng theo cách đó: chỉ cần làm việc chăm chỉ, có mặt đúng nơi đúng lúc, mọi sự sẽ ổn. Triết lý ngầm: con người tự kiểm soát số phận mình.
Nhưng hãy thử hỏi: nếu Đức Chúa Trời không có trong đời bạn, liệu bạn có đang ngồi ở chỗ bạn đang ngồi hôm nay không?
2. Tự Trị — Tôi Tự Quyết
“Đời tôi, tôi tự quyết.” “Thân thể tôi, tôi muốn làm gì thì làm.” Một người yêu động vật để lại 5 triệu đô-la cho con mèo của mình mà không cho một xu nuôi những đứa trẻ đang ăn bánh bùn ở Haiti. Hàng nghìn đô-la để cứu rừng, không một đồng cho việc xóa mù chữ trẻ em nội đô — bởi “tôi tự quyết điều gì là quan trọng đối với tôi.”
Tự trị nói: tôi không chịu trách nhiệm trước ai cả. Triết lý ngầm: tôi tự quyết tôi mắc nợ ai. Tôi tự ban ý nghĩa cho cuộc đời mình. Đức Chúa Trời bị loại khỏi bức tranh.
Thân thể bạn quả thật là của bạn — cho đến khi một thân thể khác bắt đầu lớn lên bên trong bạn. Lúc đó, nó không còn chỉ là thân thể của bạn nữa.
3. Tương Đối — Không Có Tuyệt Đối
Đây có lẽ là elohim cổ xưa nhất. Ý tưởng cốt lõi: các giá trị tuyệt đối là bất khả thi và phản trực giác. Một khi chấp nhận tương đối, Mười Điều Răn lập tức bị vứt bỏ — vì làm sao có thể có một quy luật áp dụng cho mọi thời, mọi nơi, mọi tình huống?
“Đó là sự thật của bạn, đây là sự thật của tôi.” Triết lý ngầm: đạo đức tùy hoàn cảnh. Còn sự thật của Đức Chúa Trời thì sao?
4. Hữu Hạn — Không Gì Tồn Tại Mãi
Không gì kéo dài mãi mãi. Người ta đổi xe, đổi việc, đổi hôn nhân, đổi địa vị, đổi giới tính, đổi danh tính. Mọi thứ đều tạm thời. Một Đức Chúa Trời “hôm qua, ngày nay và cho đến đời đời không hề thay đổi” trở nên không thể hiểu nổi đối với não trạng này. Triết lý ngầm: không gì là vĩnh cửu.
Mỗi miệng đói, mỗi căn bệnh ung thư, mỗi sai lầm xã hội — đều có thể truy về một trong bốn elohim ý thức hệ này.
Đức Chúa Trời Của Bạn Có Đủ Lớn Không?
Từ “yêu” trong thế giới hôm nay đã trở thành một trong những từ rỗng nghĩa nhất. Tôi yêu chó, yêu mèo, yêu áo, yêu xe, yêu giày, yêu mùa hè, yêu mùa đông, yêu vợ tôi, yêu chiếc máy cày John Deere — và nếu cái nào trong hai thứ cuối cùng già nua hay rỉ sét, tôi sẵn sàng đổi mới.
“Ai chẳng yêu, thì không biết Đức Chúa Trời; vì Đức Chúa Trời là sự yêu thương.” (1 Giăng 4:8)
Đức Chúa Trời là tình yêu — nhưng tình yêu không phải là Đức Chúa Trời. Đó chính là lý do Ngài phán: “Trước mặt ta, ngươi chớ có các thần khác.”
Kết cục logic và có thể đoán trước của thuyết tiến hóa là sự thần thánh hóa con người và sự suy đồi của vị thần mà người ta tôn thờ. Nếu bạn là chính thần của mình, thì thần của bạn quá nhỏ. Một ngày nào đó bạn sẽ va phải một vấn đề mà thần của bạn không xử lý nổi. Có những ngày thần của bạn sẽ bị bệnh. Đôi khi thần của bạn sẽ có một ngày không muốn ai làm phiền. Sớm hay muộn, nếu con người là thần của bạn, thần ấy sẽ gặp một bài toán không giải được.
Và nếu bạn là thần của chính bạn — mà thần ấy không thể giữ bạn, không thể chữa lành cho bạn, không thể giúp bạn — thì chắc chắn thần ấy không thể cứu bạn.
Hãy đặt Đức Chúa Trời trở lại trung tâm. Không phải tiền bạc, không phải nhà cửa, không phải công việc, không phải danh tiếng, không phải vợ chồng, không phải gia đình. Dù gia đình quan trọng đến đâu, không gì được phép đứng trước mối tương giao một-một của bạn với Đức Chúa Trời.
“Đừng sợ, đừng kinh-hãi: Ta há chẳng từ lâu rao ra và tỏ ra điều đó cho ngươi sao? Các ngươi làm chứng cho ta. Ngoài ta há có Đức Chúa Trời nào khác chăng? Thật chẳng có Vầng Đá nào khác; ta không biết đến!” (Ê-sai 44:8)
Trong ban đầu, Bereshit bara Elohim — Đức Chúa Trời. Trong tận cùng, vẫn chỉ một Đức Chúa Trời. Chúng ta đến từ tay Đức Chúa Trời, và bởi ân điển Ngài, chúng ta đang trở về với Ngài.