Sự Sụp Đổ Của Ba Bức Tường
Khi cơn bão Katrina quét qua vùng vịnh Hoa Kỳ, nhiều người đã nghĩ rằng New Orleans đã thoát hiểm. Nhưng rồi những con đê ngăn lũ bị vỡ, và thành phố – vốn nằm thấp như một bồn tắm – nhanh chóng chìm trong biển nước. Thảm họa thực sự không đến từ cơn bão, mà đến từ sự sụp đổ của các bức tường bảo vệ.
Bài học này nói về ba bức tường thuộc linh và chính trị đang giữ cho thế giới khỏi rơi vào hỗn loạn. Khi cả ba bức tường này sụp đổ, sẽ có một thời kỳ hoạn nạn chưa từng có trong lịch sử. Ba bức tường ấy là: bức tường ngăn cách giữa Tin Lành và Công Giáo La Mã, bức tường ngăn cách giữa nhà thờ và nhà nước, và bức tường ngăn cách giữa chủ nghĩa cộng sản với Công Giáo La Mã.
Bức Tường Giữa Tin Lành Và Công Giáo La Mã
Bức tường thứ nhất được Martin Luther khởi công xây dựng vào năm 1517, khi ông đóng 95 luận đề lên cửa nhà thờ Wittenberg. Sau đó Calvin, Zwingli và nhiều nhà Cải Chánh khác tiếp tục đặt thêm những viên gạch vững chắc. Để Công Giáo La Mã có thể khôi phục quyền lực thế giới như Kinh Thánh báo trước trong Khải Huyền 13 – khi “cả thiên hạ đều theo sau con thú” – bức tường này phải bị kéo đổ.
Vào những năm 1870–1880, bức tường này vững chắc hơn bao giờ hết, phần lớn nhờ công việc của Giáo hoàng Pius IX. Năm 1854 ông ban hành tín điều Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội; kế đến là “Bản liệt kê các sai lầm” lên án sự tách biệt nhà thờ khỏi nhà nước là một “sai lầm tai hại”; và tại Công đồng Vatican I năm 1870, tín điều về sự bất khả ngộ của giáo hoàng được ban hành. Những điều đó đã đẩy người Tin Lành ra xa hơn bao giờ hết.
Nhưng trong những thập niên gần đây, các viên gạch đã lần lượt bị gỡ xuống. Ngày 29 tháng 3 năm 1994, 39 nhà lãnh đạo Tin Lành phái Phúc Âm và Công Giáo La Mã đã ký văn kiện “Evangelicals and Catholics Together”, tuyên bố rằng không nên chiêu dụ tín đồ của nhau và cần hợp lực truyền giáo cho thế giới. Pat Robertson phát biểu rằng “đã đến lúc phải gạt sang một bên những khác biệt nhỏ về giáo lý và tập trung vào Đức Chúa Giê-su Christ” – như thể có thể tách rời giáo lý khỏi Đức Chúa Giê-su.
Năm 1999, sau 33 năm đối thoại, các lãnh đạo Lutheran và Công Giáo La Mã đã ký “Tuyên ngôn chung về sự xưng công bình bởi đức tin” vào đúng ngày 31 tháng 10 – đúng 482 năm sau khi Luther đóng 95 luận đề. Văn bản này thực chất coi cuộc Cải Chánh là một “sự hiểu lầm” về ngữ nghĩa. Các tạp chí lớn thậm chí ghi nhận người Tin Lành ngày càng chấp nhận cái nhìn của Công Giáo La Mã về Đức Mẹ Ma-ri.
Tiến trình xích lại gần nhau này bắt đầu từ Công đồng Vatican II (1962–1965). Giáo hoàng John XXIII muốn “làm mới” Giáo hội Công Giáo La Mã; lần đầu tiên các nhà lãnh đạo Tin Lành được mời dự với tư cách quan sát viên và được gọi là “anh em ly khai” thay vì “những kẻ dị giáo”. Cùng thời điểm, phong trào hippie với ma túy, tình dục và nổi loạn đã làm suy đồi đạo đức xã hội Hoa Kỳ, tạo ra phản ứng đoàn kết giữa những người bảo thủ. Phán quyết Roe v. Wade năm 1973, các tranh luận về hôn nhân đồng tính, vụ Terri Schiavo – tất cả đều đẩy người Tin Lành và Công Giáo La Mã lại gần nhau trên các vấn đề xã hội, trong khi giáo lý bị gạt sang một bên.
Billy Graham từng nói: “Tôi thấy niềm tin của tôi về cơ bản giống với Công Giáo La Mã chính thống”, và gọi giáo hoàng là “nhà lãnh đạo đạo đức vĩ đại nhất thế giới”. Charles Colson kêu gọi các Cơ-đốc nhân đoàn kết và coi tranh luận giáo lý là “cãi cọ vặt vãnh”. Bà Ellen White đã viết trong The Great Controversy, trang 445, hơn một trăm năm trước những lời này: “Khi các giáo hội lớn tại Hoa Kỳ, hiệp nhất trên những điểm giáo lý chung mà họ cùng nắm giữ, sẽ tác động đến nhà nước để thi hành các sắc lệnh của họ… thì Tin Lành Hoa Kỳ sẽ đã tạo nên một hình tượng cho hệ thống phẩm trật La Mã.”
Bức Tường Giữa Nhà Thờ Và Nhà Nước
Bức tường thứ hai được xây dựng qua Hiến pháp Hoa Kỳ (1787) và Tuyên ngôn Nhân quyền (1791). Tu chính án thứ nhất mở đầu bằng câu: “Quốc hội sẽ không ban hành luật nào liên quan đến việc thiết lập tôn giáo, hoặc cấm đoán sự tự do thực hành tôn giáo.” Đây chính là sự tách biệt giữa nhà thờ và nhà nước – hai chiếc sừng giống chiên con được mô tả trong Khải Huyền 13:11, tượng trưng cho chủ nghĩa cộng hòa và Tin Lành.
Bức tường này còn được củng cố bởi biến cố năm 1798, khi quyền lực thế tục dùng gươm đánh vào giáo quyền – ứng nghiệm Khải Huyền 13:10: “Ai dẫn kẻ khác đi phu tù, thì chính mình phải bị phu tù.” Gươm tượng trưng cho quyền lực dân sự (Rô-ma 13). Linh mục Dòng Tên Malachi Martin thừa nhận: “Hai trăm năm không hoạt động đã được các cường quốc thế tục áp đặt trên giáo quyền.” Bà Ellen White viết trong The Great Controversy, trang 564: “Hãy để cho những sự kiềm chế do các chính phủ thế tục áp đặt hiện nay được tháo bỏ, và La Mã sẽ được khôi phục quyền lực cũ.”
Nhưng Khải Huyền 13:3 cho biết “vết thương chí mạng của nó đã được chữa lành”, và cả thế giới đi theo con thú. Câu 12 cho biết con thú thứ hai – Hoa Kỳ – sẽ khiến mọi người thờ lạy con thú thứ nhất mà vết thương đã lành. Để điều này xảy ra, bức tường ngăn cách giữa nhà thờ và nhà nước phải sụp đổ.
Thẩm phán trưởng William Rehnquist từng tuyên bố rằng “bức tường ngăn cách giữa nhà thờ và nhà nước là một phép ẩn dụ dựa trên lịch sử sai lầm” và nên “bị từ bỏ một cách thẳng thắn và rõ ràng”. W.A. Criswell gọi khái niệm tách biệt này là “sản phẩm tưởng tượng của một kẻ vô thần”. Keith Fournier viết rằng “bức tường ngăn cách ấy được dựng lên bởi những người thế tục chủ nghĩa và các kẻ thù của tự do tôn giáo” và phải bị kéo đổ.
Sự kiện Hoa Kỳ tái lập quan hệ ngoại giao với Vatican dưới thời Ronald Reagan, việc trao Huân chương Vàng Quốc hội cho giáo hoàng năm 2000, sắc lệnh hành pháp của George W. Bush về các sáng kiến đức tin – tất cả đều cho thấy bức tường này đang lung lay. Bà Ellen White viết trong The Great Controversy, trang 411, rằng chủ nghĩa cộng hòa và Tin Lành – tức tự do dân sự và tự do tôn giáo – là “bí quyết sức mạnh và thịnh vượng” của Hoa Kỳ. Khi bức tường này bị phá, quốc gia này sẽ mất đi chính nguồn sức mạnh của mình.
Bức Tường Giữa Cộng Sản Và Công Giáo La Mã
Bức tường thứ ba bắt đầu được xây từ thời Cách mạng Pháp – một phản ứng vô thần chống lại tôn giáo. Những viên gạch tiếp theo được đặt trong Cách mạng Bolshevik năm 1917, rồi hiệp ước giữa Truman, Churchill và Stalin sau Thế chiến thứ hai đã chia đôi châu Âu. Vào thập niên 1960, hết quốc gia này đến quốc gia khác – kể cả ở Mỹ Latin – nghiêng về phía cộng sản. Biểu tượng sống động nhất của bức tường này là Bức tường Berlin.
Đa-ni-ên 11:40 nói về vua phương Nam và vua phương Bắc trong thời kỳ cuối cùng. Vua phương Nam tượng trưng cho chủ nghĩa vô thần – tinh thần của Pha-ra-ôn nói rằng “ta chẳng biết Đức Chúa Trời là ai”. Vua phương Bắc tượng trưng cho giáo quyền. Sau khi vua phương Nam trỗi dậy chống lại vua phương Bắc trong Cách mạng Pháp, vua phương Bắc sẽ trỗi dậy và chinh phục lại tất cả những gì đã mất.
Năm 1982, một liên minh bí mật được hình thành giữa Giáo hoàng John Paul II và Tổng thống Ronald Reagan. Tạp chí Time ngày 24 tháng 2 năm 1992 mô tả cuộc gặp ngày 7 tháng 6 năm 1982 tại Vatican như “một trong những liên minh bí mật vĩ đại nhất mọi thời đại” – một chiến dịch bí mật nhằm đẩy nhanh sự sụp đổ của đế chế cộng sản. Carl Bernstein đã ghi lại chi tiết trong cuốn His Holiness. Sức mạnh kinh tế và quân sự của Hoa Kỳ kết hợp với mạng lưới tình báo của Giáo hội Công Giáo La Mã trên khắp Đông Âu đã dẫn đến sự sụp đổ của Bức tường Berlin.
Linh mục Dòng Tên Malachi Martin trong cuốn The Keys of This Blood đã viết rằng có ba quyền lực toàn cầu tranh giành thống trị thế giới: chủ nghĩa cộng sản, chủ nghĩa tư bản phương Tây, và Công Giáo La Mã. Ông khẳng định chắc chắn hệ thống Công Giáo La Mã sẽ thắng. Kể từ khi cuốn sách được viết, chủ nghĩa cộng sản Đông Âu đã sụp đổ, và chủ nghĩa tư bản phương Tây đang suy tàn vì sự vô luân và rời xa các nguyên tắc Kinh Thánh.
Thức Tỉnh Trước Thời Kỳ Cuối Cùng
Bà Ellen White đã nói những điều tưởng như phi lý vào năm 1888, khi Hoa Kỳ còn xa cách giáo quyền La Mã: “Khi đất nước mà Chúa đã ban cho làm nơi trú ẩn cho dân Ngài… qua các nhà lập pháp của nó, hấp thụ những nguyên tắc của Tin Lành và tán thành sự bội đạo của La Mã khi đụng chạm đến luật pháp Đức Chúa Trời, thì bấy giờ công việc cuối cùng của kẻ tội ác sẽ được hiển lộ. Những người Tin Lành sẽ ném toàn bộ ảnh hưởng và sức mạnh của họ về phía giáo quyền.”
Bà nói rõ việc thực thi ngày Sa-bát giả bởi một đạo luật quốc gia sẽ “ban sự sống và sinh lực cho đức tin hư hoại của La Mã”, chính là sự chữa lành vết thương chí mạng. Điều đáng ngạc nhiên là cả phe tả lẫn phe hữu ngày nay đều đang tấn công luật pháp Đức Chúa Trời: phe tả qua hôn nhân đồng tính, phe hữu qua luật Chủ Nhật – cả hai đều là sự thay đổi các định chế được lập từ lúc sáng thế.
Khi tang lễ Giáo hoàng John Paul II diễn ra, 80 nguyên thủ quốc gia, đại diện từ 200 nước, các tôn giáo lớn của thế giới – Do Thái Giáo, Hồi giáo, Ấn Độ giáo, Phật giáo, và nhiều giáo phái Tin Lành – đều có mặt. Năm triệu người đến Vatican. Ba trăm ngàn người tụ họp tại quảng trường Thánh Phê-rô. Cả thế giới đã gần như “đi theo sau con thú”.
Ellen White cảnh báo trong The Great Controversy, trang 589, rằng các thành phố đông dân sẽ bị hoang tàn, lốc xoáy và động đất sẽ trở nên thường xuyên và khủng khiếp hơn khi chúng ta tiến gần đến thời kỳ cuối cùng. Khi nhân loại không tìm được lối thoát, ma quỷ sẽ thuyết phục họ rằng dân sót chính là nguyên nhân của mọi tai họa.
Chúng ta hãy tạ ơn Đức Chúa Trời đã ban cho chúng ta ánh sáng của thần cảm tiên tri. Chúng ta cần tỉnh thức: học Kinh Thánh như chưa từng học, cầu nguyện như chưa từng cầu nguyện, làm chứng như chưa từng làm chứng. Đức Chúa Giê-su đã phán: “Đêm đến, không ai làm việc được.” Nguyện xin Đức Thánh Linh đánh thức chúng ta khỏi giấc ngủ mê, để chúng ta sẵn sàng cho ngày Đức Chúa Giê-su trở lại.