Sứ Điệp Thiên Sứ Thứ Nhất — Tin Lành Đời Đời và Ba Mệnh Lệnh

Đặt vấn đề: ba sứ điệp phải được công bố theo thứ tự

Khải Huyền 14 trình bày ba sứ điệp được rao giảng bởi ba thiên sứ trong những ngày cuối cùng. Cách Giăng dùng ngôn ngữ rõ ràng cho thấy các sứ điệp này không độc lập, mà xếp chồng lên nhau theo thứ tự: “thiên sứ khác theo sau” (câu 8), “thiên sứ thứ ba theo sau hai vị kia” (câu 9). Sứ điệp sau xây trên sứ điệp trước. Vì lẽ đó, phải hiểu sứ điệp thiên sứ thứ nhất trước mới có thể hiểu hai sứ điệp kia.

“Điều tôi thấy một vị thiên sứ khác đang bay giữa trời, có Tin Lành đời đời, đặng rao truyền cho dân cư trên đất, cho mọi nước, mọi chi phái, mọi tiếng, và mọi dân tộc, người cất tiếng lớn nói rằng: Hãy kính sợ Đức Chúa Trời, và tôn vinh Ngài, vì giờ phán xét của Ngài đã đến; hãy thờ phượng Đấng dựng nên trời, đất, biển và các suối nước.” (Khải Huyền 14:6-7)

Hai câu này có hai phần rất cân:

  • Câu 6Tin Lành đời đời: việc Đức Chúa Giê-su đã làm cho ta, không có sự can thiệp của ta.
  • Câu 7ba mệnh lệnh: đáp ứng đầy biết ơn của ta đối với điều Ngài đã làm.

Bohr triển khai bài giảng theo đúng hai phần ấy.


Phần 1 — Tin Lành đời đời: bốn việc Đức Chúa Giê-su đã làm

1. Cứu rỗi bởi ân điển qua đức tin — không phải bởi việc lành

“Vả, ấy là nhờ ân điển, bởi đức tin, mà anh em được cứu, điều đó không phải đến từ anh em, bèn là sự ban cho của Đức Chúa Trời. Ấy chẳng phải bởi việc làm đâu, hầu cho không ai khoe mình.” (Ê-phê-sô 2:8-9)

Cứu rỗi là quà tặng. Không thể kiếm được bằng công đức. Bohr lập tức ngăn chặn lời phản bác có thể có (“nếu vậy việc làm chẳng còn quan trọng gì”) bằng cách đọc luôn câu kế tiếp:

“Vì chúng ta là việc Ngài làm ra, đã được dựng nên trong Đức Chúa Giê-su Christ để làm việc lành mà Đức Chúa Trời đã sắm sẵn trước cho chúng ta làm theo.” (Ê-phê-sô 2:10)

Trong câu 10, “việc Ngài làm ra” (workmanship) không nói về việc Ngài tạo dựng ta thuộc thể, mà nói về sự sanh lại. Chúng ta đã được tái dựng trong Đấng Christ về mặt thuộc linh — và việc lành là kết quả của sự cứu rỗi, không phải nguyên nhân. Hơn nữa, các việc lành ấy “Đức Chúa Trời đã sắm sẵn trước” — vinh hiển vì thế thuộc về Ngài, không thuộc về ta.

2. Đức Chúa Giê-su đã sống một cuộc đời trọn vẹn — chiếc áo công bình

“Đức Chúa Trời đã làm cho Đấng vốn chẳng biết tội lỗi trở nên tội lỗi vì chúng ta, hầu cho chúng ta nhờ Đấng đó mà được trở nên sự công bình của Đức Chúa Trời.” (II Cô-rinh-tô 5:21)

Mỗi hành động vâng phục của Đức Chúa Giê-su là một sợi chỉ được dệt thêm vào chiếc áo công bình. Khi Ngài nói trên thập tự “Mọi việc đã được trọn”, chiếc áo ấy đã hoàn tất. Bằng đức tin, ta nhận chiếc áo ấy như của chính ta, để che lấp sự trần truồng thuộc linh. Đó là cơ sở để Đức Chúa Trời xem ta như công bình.

3. Đức Chúa Giê-su đã gánh tội và hình phạt của ta

“Chúng ta thảy đều như chiên đi lạc, ai theo đường nấy: Đức Giê-hô-va đã làm cho tội lỗi của hết thảy chúng ta đều chất trên người.” (Ê-sai 53:6)

“Đấng Christ đã chuộc chúng ta khỏi sự rủa sả của luật pháp, bởi Ngài đã nên sự rủa sả vì chúng ta — vì có lời chép: Đáng rủa thay là kẻ bị treo trên cây gỗ.” (Ga-la-ti 3:13)

Một số người vội kết luận: “vậy luật pháp là xấu, vì luật pháp rủa sả.” Bohr trả lời bằng một minh họa: ta vượt đèn đỏ, bị cảnh sát phạt — không phải lỗi tại đèn giao thông. Lỗi ở ta. Luật pháp rủa sả vì ta đã vi phạm.

Cảnh sát có thể tha vé phạt và đồng thời giữ công lý không? Có — nếu chính cảnh sát đến tòa và trả tiền vé phạt thay cho ta. Khi ấy luật pháp được thi hành, sự công bình được giữ, và lòng thương xót được tỏ ra. Đó chính xác là điều Đức Chúa Giê-su đã làm. Ngài trả vé phạt cho ta — không phải bằng tiền, mà bằng huyết. Vì lẽ đó, Đức Chúa Trời vừa công bình, vừa xưng công bình cho kẻ tin nơi Ngài.

4. Đức Chúa Giê-su là Đấng Cầu Thay duy nhất của ta

Để có thể cầu thay cho con người trước Đức Chúa Trời, một Đấng Trung Bảo phải có ba đặc tính, không thể thiếu một:

Đặc tínhCâu Kinh Thánh
Phải là Đức Chúa Trời(cần thiết để đứng trước Cha)
Phải hoàn toàn là người“Vì chỉ có một Đức Chúa Trời, và chỉ có một Đấng Trung Bảo ở giữa Đức Chúa Trời và loài người, tức là Đức Chúa Giê-su Christ, là người.” (I Ti-mô-thê 2:5)
Phải vô tội“Hỡi con cái bé mọn ta, ta viết cho các con những điều nầy, hầu cho các con khỏi phạm tội. Nếu có ai phạm tội, thì chúng ta có Đấng cầu thay ở nơi Đức Chúa Cha, là Đức Chúa Giê-su Christ, tức là Đấng công bình.” (I Giăng 2:1)

“Vì chúng ta không có thầy tế lễ thượng phẩm chẳng có thể cảm thương sự yếu đuối chúng ta, bèn có một thầy tế lễ bị thử thách trong mọi việc cũng như chúng ta, song chẳng phạm tội.” (Hê-bơ-rơ 4:15)

“Bởi đó Ngài có thể cứu toàn vẹn những kẻ nhờ Ngài mà đến gần Đức Chúa Trời, vì Ngài hằng sống để cầu thay cho những kẻ ấy.” (Hê-bơ-rơ 7:25)

Ba đặc tính ấy loại trừ thầy tế lễ là người: một người không phải Đức Chúa Trờikhông vô tội, nên không thể là Đấng Trung Bảo. Đức Chúa Giê-su có cả ba.

Cái thang Gia-cốp và bức màn trong đền tạm

Hai hình ảnh đẹp trong Cựu Ước minh họa vai trò Trung Bảo của Đức Chúa Giê-su. Trong giấc chiêm bao của Gia-cốp (Sáng Thế Ký 28), một cái thang nối từ đất tới trời, các thiên sứ lên xuống. Chính Đức Chúa Giê-su xác định cái thang ấy là Ngài:

“Quả thật, quả thật, ta nói cùng các ngươi, các ngươi sẽ thấy trời mở ra, và thiên sứ của Đức Chúa Trời lên xuống trên Con người.” (Giăng 1:51)

Đỉnh thang đại diện cho thần tánh của Đấng Christ; chân thang đại diện cho nhân tánh. Các thiên sứ mang lời cầu nguyện của ta lên Đức Chúa Giê-su, Ngài trình lên Cha, Cha đáp lời, và phước hạnh được mang xuống lại — qua chính Đấng Trung Bảo.

Hình ảnh thứ hai là bức màn giữa nơi thánh và nơi chí thánh trong đền tạm. Bàn thờ xông hương đứng ngay trước bức màn; hương khói bay qua bức màn vào nơi chí thánh — biểu tượng cho công nghiệp của Đấng Christ được đem vào trước mặt Cha. Trên bức màn ấy thêu hình các chê-ru-bin, các thiên sứ lên xuống — một hồi vang trực tiếp của giấc chiêm bao Gia-cốp.

“Ngươi hãy làm một bức màn bằng vải gai đậu mịn, chỉ tím, đỏ điều, đỏ sặm, có thêu những hình chê-ru-bin rất khéo.” (Xuất Ê-díp-tô Ký 26:31)


Phần 2 — Ba mệnh lệnh: đáp ứng của ta đối với Tin Lành

Khải Huyền 14:7 có ba mệnh lệnh (imperatives) — không phải gợi ý. Đây là cách Đức Chúa Trời quy định một đời sống biết ơn cho người đã nhận Tin Lành đời đời.

Mệnh lệnh 1: Hãy kính sợ Đức Chúa Trời

Kính sợ Đức Chúa Trời không có nghĩa là sợ hãi Ngài. Nó có nghĩa là lòng kính trọng sâu sắc, được thể hiện qua sự vâng phục. Cũng giống như khi Môi-se viết rằng con cái phải kính sợ cha mẹ — không phải sống trong nỗi sợ, mà sống trong lòng tôn kính dẫn đến vâng lời.

Bohr điểm qua một loạt nhân vật trong Kinh Thánh để định nghĩa kính sợ thực tiễn:

  • Áp-ra-ham dâng Y-sác: “Vì bây giờ ta biết rằng ngươi thật kính sợ Đức Chúa Trời, bởi cớ không tiếc với ta con ngươi, tức con một ngươi.” (Sáng 22:12) — kính sợ = vâng phục đến cùng.

  • Áp-ra-ham nói với A-bi-mê-léc: “Vì tôi tự nghĩ rằng: Trong xứ nầy thật không có ai kính sợ Đức Chúa Trời, thì họ sẽ vì cớ vợ tôi mà giết tôi chăng.” (Sáng 20:11) — nơi không có lòng kính sợ Đức Chúa Trời, điều răn thứ sáu (chớ giết người) sẽ bị phá.

  • Hai bà mụ Hê-bơ-rơ: “Nhưng các bà mụ kính sợ Đức Chúa Trời, chẳng làm theo lời vua Ê-díp-tô phán dặn, đều để cho các con trai sống hết.” (Xuất 1:17) — kính sợ Đức Chúa Trời nghĩa là vâng luật pháp Ngài, ngay cả khi nhà vua ra lệnh ngược lại.

  • Gióp: “Trên thế gian chẳng có người nào giống như nó, vốn trọn vẹn và ngay thẳng, kính sợ Đức Chúa Trời, và lánh khỏi điều ác.” (Gióp 1:8) — kính sợ là lánh điều ác, mà điều ác là vi phạm điều răn.

  • Nô-ê: bởi đức tin, đã kính sợ và đóng tàu trong khi cả thế gian cười nhạo (Hê-bơ-rơ 11:7).

  • Châm Ngôn 8:13: “Sự kính sợ Đức Giê-hô-va, ấy là ghét điều ác.”

  • Truyền Đạo 12:13-14: “Chúng ta hãy nghe lời kết của lý thuyết nầy: Khá kính sợ Đức Chúa Trời và giữ các điều răn Ngài; ấy là trọn phận sự của ngươi.”

  • Hê-bơ-rơ 12:28-29: “Chúng ta hãy cảm ơn, lấy lòng kính sợ hầu việc Đức Chúa Trời một cách đẹp lòng Ngài; vì Đức Chúa Trời chúng ta là đám lửa hay thiêu đốt.”

Kết luận: kính sợ Đức Chúa Trời trong Khải Huyền 14:7 không phải cảm xúc trừu tượng. Đó là sự kính trọng dẫn đến giữ các điều răn. Việc giữ các điều răn không cứu chuộc ta — nhưng nó tỏ ra ta có thật sự tiếp nhận Đấng Christ làm Cứu Chúa và Chủ hay không.

Mệnh lệnh 2: Hãy tôn vinh Đức Chúa Trời

Câu hỏi đầu tiên: ta thực sự có vinh hiển nào để dâng cho Đức Chúa Trời không? Theo Rô-ma 3:23, “mọi người đều đã phạm tội, thiếu mất sự vinh hiển của Đức Chúa Trời.” Vậy tôn vinh nghĩa là gì?

Câu trả lời nằm trong cuộc đối thoại giữa Môi-se và Đức Chúa Trời:

“Môi-se thưa rằng: Tôi xin Ngài cho tôi xem sự vinh hiển của Ngài. Đức Giê-hô-va phán: Ta sẽ làm cho các sự nhân từ ta phát ra trước mặt ngươi; ta hô danh Giê-hô-va trước mặt ngươi.” (Xuất Ê-díp-tô Ký 33:18-19)

Khi Môi-se cầu xin được thấy vinh hiển của Đức Chúa Trời, Ngài đáp lại bằng việc công bố Danh Ngài — và Danh trong Kinh Thánh = bản tính. Vinh hiển của Đức Chúa Trời là bản tính của Ngài. Sự công bố ấy được trải ra đầy đủ ở chương kế tiếp:

“Giê-hô-va! Giê-hô-va! Là Đức Chúa Trời nhân từ, thương xót, chậm giận, đầy dẫy ân huệ và thành thực, ban ơn đến ngàn đời, xá điều gian ác, tội trọng, và tội lỗi; nhưng chẳng kể kẻ có tội là vô tội.” (Xuất Ê-díp-tô Ký 34:6-7)

Đức Chúa Trời nhân từ công bằng. Không thiếu mặt nào.

Tôn vinh Đức Chúa Trời, vì thế, là phản chiếu bản tính ấy. Khi Môi-se xuống núi sau bốn mươi ngày ở với Đức Giê-hô-va, “Môi-se chẳng biết rằng da mặt mình sáng rực bởi vì mình hầu chuyện Đức Giê-hô-va” (Xuất 34:29). Vinh hiển của Đức Chúa Trời thấm vào ông, và phản chiếu ra qua ông.

“Chúng ta ai nấy đều để mặt trần mà nhìn xem vinh hiển Chúa như trong gương, thì hóa nên cũng một ảnh tượng Ngài, từ vinh hiển qua vinh hiển, như bởi Chúa, là Thánh Linh.” (II Cô-rinh-tô 3:18)

Đức Chúa Giê-su xác nhận đúng nguyên tắc ấy:

“Sự sáng các ngươi hãy soi trước mặt người ta như vậy, đặng họ thấy những việc lành của các ngươi, và ngợi khen Cha các ngươi ở trên trời.” (Ma-thi-ơ 5:16)

Bohr minh họa: ngắm trăng tròn vào một đêm đẹp, ta khen “trăng đẹp quá”. Nhưng đó chỉ là một nửa sự thật. Trăng không có ánh sáng riêng. Trăng đẹp vì mặt trời chiếu lên nó. Cũng vậy, ta là trăng, Đấng Christ là mặt trời. Vinh hiển ta phản chiếu là vinh hiển Ngài đã ban. Tôn vinh Đức Chúa Trời = phản chiếu lại cho Ngài chính sự vinh hiển Ngài đã chiếu lên ta.

Một chi tiết đẹp: trước bốn mươi năm trên núi, Môi-se có thể tàn nhẫn — Xuất 2:11-12 mô tả ông cố ý giết một người Ai Cập rồi chôn xác trong cát. Nhưng sau bốn mươi năm gần Đức Chúa Trời, Dân Số Ký 12:3 viết: “Vả, Môi-se là người rất khiêm hòa hơn mọi người trên thế gian.” Đó là điều chiêm ngưỡng vinh hiển của Đức Chúa Trời sẽ làm cho một con người.

Mệnh lệnh 3: Hãy thờ phượng Đấng dựng nên trời, đất, biển và các suối nước

Mệnh lệnh thứ ba xác định cụ thể đối tượng thờ phượng: Đấng Sáng Tạo. Cơ sở của quyền đòi sự thờ phượng là quyền sáng tạo:

“Hãy đến, cúi xuống mà thờ lạy; khá quì gối xuống trước mặt Đức Giê-hô-va, là Đấng Tạo Hóa chúng tôi!” (Thi Thiên 95:6)

Để hiểu thờ phượng Đấng Sáng Tạo theo cách Ngài đã định, phải về lại Sáng Thế Ký 1:31–2:3 — và đếm các động từ:

“Đến ngày thứ bảy, Đức Chúa Trời làm xong các công việc Ngài đã làm, và ngày thứ bảy, Ngài nghỉ các công việc Ngài đã làm. Rồi, Ngài ban phước cho ngày thứ bảy, đặt là ngày thánh; vì trong ngày đó, Ngài nghỉ các công việc đã dựng nên và đã làm xong rồi.” (Sáng Thế Ký 2:2-3)

Đức Chúa Trời làm ba điều với ngày thứ bảy: nghỉ, ban phước, đặt làm ngày thánh. Ba động từ ấy quay lại từng chữ một trong điều răn thứ tư:

“Hãy nhớ ngày nghỉ đặng làm nên ngày thánh. Ngươi hãy làm hết công việc mình trong sáu ngày; nhưng ngày thứ bảy là ngày nghỉ của Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi… Vì trong sáu ngày Đức Giê-hô-va đã dựng nên trời, đất, biển, và muôn vật ở trong đó, qua ngày thứ bảy thì Ngài nghỉ; vậy nên Đức Giê-hô-va đã ban phước cho ngày nghỉ và làm nên ngày thánh.” (Xuất Ê-díp-tô Ký 20:8-11)

Có người phản bác: “Sa-bát là cho người Do Thái.” Phản bác ấy không đứng được, vì Sa-bát đã có trước khi có người Do Thái, từ tuần lễ Sáng Thế. Sa-bát nối liền với Sáng Tạo, không nối liền với Y-sơ-ra-ên. Hơn nữa, lý do được nêu trong Xuất 31 cũng vậy — không nhắc đến Y-sơ-ra-ên, mà nhắc đến Sáng Tạo:

“Ấy là một dấu đời đời cho ta cùng dân Y-sơ-ra-ên, vì Đức Giê-hô-va đã dựng nên trời và đất trong sáu ngày, qua ngày thứ bảy Ngài nghỉ và lấy sức lại.” (Xuất Ê-díp-tô Ký 31:17)

Điều răn thứ tư là điều răn duy nhất được viết bởi chính ngón tay Đức Chúa Trời“Khi Đức Giê-hô-va đã phán xong cùng Môi-se tại núi Si-na-i, bèn cho người hai bảng chứng bằng đá, bởi ngón tay Đức Chúa Trời viết ra” (Xuất 31:18). Không một con người nào có thẩm quyền đổi nó.

Thêm xác nhận:

“Ta cũng cho chúng nó những ngày Sa-bát ta làm một dấu giữa ta và chúng nó, đặng chúng nó biết rằng ta là Đức Giê-hô-va biệt chúng nó ra thánh.” (Ê-xê-chi-ên 20:12)


Mạch logic dẫn về sứ điệp thiên sứ thứ hai và thứ ba

Khi đặt cả ba mệnh lệnh cạnh nhau, một mạch xuất hiện rõ rệt:

Mệnh lệnhBản chất
Kính sợ Đức Chúa TrờiVâng phục các điều răn của Ngài
Tôn vinh Đức Chúa TrờiPhản chiếu bản tính của Ngài
Thờ phượng Đấng Sáng TạoGiữ ngày Sa-bát mà chính Ngài đã thiết lập

Sách Khải Huyền nói đến ấn của Đức Chúa Trờimác của con thú. Theo Bohr, ấn của Đức Chúa Trời chính là điều răn thứ tư — vì chỉ có điều răn này chứa đầy đủ ba thành phần của một ấn hợp pháp: Danh (Đức Giê-hô-va), chức vị (Đấng Sáng Tạo), và lãnh thổ (trời, đất, biển). Mác của con thú, để là một mác đối nghịch, phải là một ngày thờ phượng đối thủ được loài người dựng nên — một ngày dâng vinh hiển cho con người thay vì cho Đấng Sáng Tạo.

Đó là cây cầu dẫn sang sứ điệp thiên sứ thứ hai. Bohr kết bài bằng một lời tóm gọn cho bài giảng kế tiếp: Ba-by-lôn ngã vì đã làm giả sứ điệp thiên sứ thứ nhất:

  • Ba-by-lôn không kính sợ Đức Chúa Trời — đùa giỡn với Mười Điều Răn.
  • Ba-by-lôn không tôn vinh Đức Chúa Trời — phản chiếu vinh hiển của chính mình.
  • Ba-by-lôn không thờ phượng Đấng Sáng Tạo — dựng một ngày thờ phượng đối thủ thay cho Sa-bát.

Vì Ba-by-lôn từ chối sứ điệp thứ nhất, nó ngã. Và vì lý do ấy, sứ điệp thiên sứ thứ ba sẽ thêm cảnh báo: kẻ nào ở lại trong Ba-by-lôn sẽ chia sẻ hình phạt của nó.