Ca-in và A-bên: Hai Của Lễ, Hai Con Đường
Những con người đầu tiên được sanh ra
Sau những trang đầu của Kinh Thánh kể về A-đam và Ê-va — hai con người được dựng nên bởi chính bàn tay của Đức Chúa Trời — Sáng Thế Ký đoạn 4 mở ra một diễn biến mới trong lịch sử nhân loại: lần đầu tiên có những con người được sanh ra bởi một người cha và một người mẹ cũng là xác thịt như chúng ta. Đó chính là lý do khi viết về gia phổ của Đức Chúa Giê-su, bác sĩ Lu-ca đã lần ngược nguồn gốc của A-đam trở về tận “A-đam, con Đức Chúa Trời” (Lu-ca 3:38). Còn từ A-đam và Ê-va trở đi, con người được sanh ra theo cách tự nhiên — và hai người con đầu tiên ấy là Ca-in và A-bên.
Mục sư Trần Quốc Khôi mời chúng ta cùng đọc phần Kinh Thánh nền tảng cho cả bài giảng:
“A-đam ăn ở với Ê-va là vợ mình; người thọ thai sanh Ca-in và nói rằng: Nhờ Đức Giê-hô-va giúp đỡ, tôi mới sanh được một người. Ê-va lại sanh em Ca-in, là A-bên; A-bên làm nghề chăn chiên, còn Ca-in thì nghề làm ruộng. Cách ít lâu, Ca-in dùng thổ sản làm của lễ dâng cho Đức Giê-hô-va. A-bên cũng dâng chiên đầu lòng trong bầy mình cùng mỡ nó. Đức Giê-hô-va đoái xem A-bên và nhận lễ vật của người; nhưng chẳng đoái đến Ca-in và cũng chẳng nhận lễ vật của người; cho nên Ca-in giận lắm mà gằm nét mặt.” (Sáng Thế Ký 4:1-5)
“Đức Giê-hô-va phán hỏi Ca-in rằng: Cớ sao ngươi giận, và cớ sao nét mặt ngươi gằm xuống? Nếu ngươi làm lành, há chẳng ngước mặt lên sao? Còn như chẳng làm lành, thì tội lỗi rình đợi trước cửa, thèm ngươi lắm; nhưng ngươi phải quản trị nó.” (Sáng Thế Ký 4:6-7)
“Ca-in thuật lại cùng A-bên là em mình. Vả, khi hai người đương ở ngoài đồng, thì Ca-in xông đến A-bên là em mình, và giết đi.” (Sáng Thế Ký 4:8)
Ở đây chúng ta nhìn thấy những con người đầu tiên được sanh ra, và cũng nhìn thấy một bằng chứng rất rõ ràng về hậu quả của tội lỗi. Từ một thế giới xinh đẹp mà Đức Chúa Trời dựng nên — một thế giới mà trong suốt tuần lễ sáng tạo, mỗi khi nhìn lại công trình của mình, Ngài đều thấy “mọi việc là tốt lắm” — nay khi tội lỗi đã xâm nhập, mọi sự hoàn toàn thay đổi. Từ những con người lẽ ra ngây thơ, vô tội, giờ đây đã sẵn sàng tước đi tính mạng của người khác, để rồi từ đó dẫn tới hết bi kịch này nối tiếp bi kịch khác trong thế giới của chúng ta.
Khi đọc phần Kinh Thánh này, có người cảm thấy dường như Ca-in bị một sự trừng phạt nặng nề. Lý do nghe có vẻ đơn giản: ông trồng trọt thì ông có gì, ông dâng cái đó cho Đức Chúa Trời — chẳng phải tấm lòng mới là điều quan trọng hay sao? Trong khi đó A-bên với nghề chăn chiên thì đem chiên lên. Vậy tại sao Chúa lại nhận của người này mà từ chối của người kia? Từ câu hỏi ấy, Mục sư khai triển một loạt bài học.
Bài học thứ nhất: hai nhóm người trong cả lịch sử cứu rỗi
Bài học đầu tiên là Ca-in và A-bên đại diện cho hai nhóm người tồn tại ngay từ thuở ban đầu cho đến tận cùng lịch sử thế giới. Khi nói về sự cứu rỗi của mỗi con người, trên cuộc đời này chỉ có hai nhóm người mà thôi.
Một bên là những người nghĩ rằng bằng những gì của tôi, bằng sức của tôi, bằng khả năng và những nỗ lực của chính tôi, tôi sẽ tìm được sự cứu rỗi. Bên kia là những người ý thức rằng khả năng con người dù có thế nào cũng vẫn có giới hạn, và do đó chúng ta cần một điều gì đó siêu nhiên, vượt ngoài khả năng của mình; cần phải có một Đấng nào đó làm thay cho con người chúng ta.
Vì vậy câu chuyện Ca-in và A-bên vượt xa hơn những gì chúng ta nhìn thấy bề ngoài. Đối với Ca-in, đây là những sản vật ông làm ra, là thành quả của công sức lao động của ông; ông dâng lên cho Đức Chúa Trời những gì ông nghĩ là của mình. Còn phía bên kia, tuy Kinh Thánh không ghi lại rõ ràng, nhưng chúng ta biết được rằng từ con chiên đầu tiên đã phải chết vì A-đam và Ê-va. Lần theo xuyên suốt những trang Kinh Thánh, như trong sách Tộc Trưởng Và Tiên Tri, chúng ta thấy hình thức dâng con sinh tế bằng của lễ thiêu là một hình bóng nói trước về Đấng Mê-si — Chiên Con của Đức Chúa Trời — sẽ đến thế giới này gánh lấy tội lỗi và chết thay cho con người.
Vậy qua việc A-bên dâng con chiên ấy, ông nói lên rằng tự khả năng của ông, ông không thể làm gì để giải cứu được mình. Ông đành trông chờ vào công đức của Đức Chúa Giê-su, vào những gì mà Đấng Mê-si — Chiên Con thật của Đức Chúa Trời — sẽ đến thế gian để làm thay cho mỗi tội nhân chúng ta.
A-bên được xưng công bình bởi đức tin
Để làm sáng tỏ điều này, Mục sư mời lật sang sách Hê-bơ-rơ đoạn 11, nơi A-bên được nêu danh giữa những anh hùng đức tin:
“Bởi đức tin, A-bên đã dâng cho Đức Chúa Trời một tế lễ tốt hơn của Ca-in, và được xưng công bình, vì Đức Chúa Trời làm chứng về người rằng Ngài nhậm lễ vật ấy; lại cũng nhờ đó dầu người chết rồi, hãy còn nói.” (Hê-bơ-rơ 11:4)
Hê-bơ-rơ nêu rất rõ ràng: A-bên, cũng như tất cả những người công bình được cứu, ý thức được rằng không phải vì con chiên đó, vì tế lễ đó, vì hành động đó mà họ được xưng công bình. Họ được xưng công bình là bởi đức tin — bởi vì họ tin. Điều đó đúng như lời định nghĩa ngay câu mở đầu của đoạn:
“Vả, đức tin là sự biết chắc vững vàng của những điều mình đương trông mong, là bằng cớ của những điều mình chẳng xem thấy.” (Hê-bơ-rơ 11:1)
Họ không hiểu hoàn toàn, họ không thấy tất cả mọi thứ ở trước mắt, nhưng họ chọn chấp nhận những điều đó. Cuộc đời A-bên tuy ngắn ngủi, và đây dường như là điều duy nhất ông thực hiện được Kinh Thánh kể lại, nhưng đó vẫn là tấm gương về một anh hùng đức tin đã chọn trung tín theo mạng lệnh của Đức Chúa Trời, cho dù phải trả giá bằng chính cuộc đời của mình.
Bài học thứ hai: đừng chọn con đường dễ dàng
Một điều khác Mục sư muốn chia sẻ là có những người đi theo Chúa với quan điểm: nếu thuận tiện cho mình thì mình làm.
Mục sư tin chắc rằng hai người con của A-đam đã được cha mẹ kể lại câu chuyện sáng tạo, kể cho họ nghe về việc cha mẹ đã sa ngã và bị đuổi ra khỏi vườn Ê-đen như thế nào. Ngay thời điểm này, A-đam, Ê-va, Ca-in và A-bên vẫn còn ở ngay bên ngoài vườn Ê-đen; chỉ có điều họ không thể đi vào, vì thiên sứ của Đức Chúa Trời với lưỡi gươm chói lòa đã ngăn con đường vào vườn (Sáng Thế Ký 3:24). Với sự tò mò của tuổi trẻ, hai người con được nghe cha mẹ kể lại về một nơi họ đã từng sinh sống, từng có những ngày hạnh phúc êm đềm, rồi vì không vâng theo mạng lệnh của Đức Chúa Trời mà phải bị đuổi ra ngoài.
Lúc đó, bài học về sự vâng lời — về việc phải làm đúng theo những gì Đức Chúa Trời phán dặn — là cực kỳ quan trọng. Đó có lẽ cũng là bài học mà A-đam và Ê-va luôn nhắc nhở, và đâu đó có một sự trăn trở: giá như mình làm đúng theo lời Đức Chúa Trời, có lẽ bây giờ không phải chỉ bản thân mình, mà cả con cái mình và cả nhân loại đã không phải khổ như thế này.
Vậy mà Ca-in lại chọn “điều chỉnh một chút” trong kế hoạch đó cho tiện lợi, cho thuận tiện với mình. Ông biết những gì ông cần làm, nhưng vào phút này ông chọn làm theo điều dễ dàng hơn, nhẹ nhàng hơn, thuận tiện hơn cho cuộc sống của mình. Ông không phải từ bỏ Đức Chúa Trời — ông vẫn tin nơi Chúa, ông vẫn dâng tế lễ — chỉ là ông chọn đi con đường dễ dàng hơn cho bản thân.
Còn A-bên tượng trưng cho những người sẵn sàng đứng lên, bất chấp tất cả mọi sự, để thực hiện theo đúng những gì Đức Chúa Trời mong muốn. Đó là sự khác biệt sống còn giữa hai con đường.
Bài học thứ ba: không gì giấu được khỏi sự toàn tri của Đức Chúa Trời
Bài học tiếp theo là không có điều gì có thể che đậy, che giấu khỏi sự toàn tri của Đức Chúa Trời.
Dù đã được cảnh báo rõ ràng — rằng nếu không thay đổi thái độ thì tội lỗi luôn rình rập xung quanh, sẵn sàng bước vào để dẫn Ca-in thực hiện công việc sai trái:
“Còn như chẳng làm lành, thì tội lỗi rình đợi trước cửa, thèm ngươi lắm; nhưng ngươi phải quản trị nó.” (Sáng Thế Ký 4:7)
— cuối cùng Ca-in vẫn sát hại em mình là A-bên. Đây có thể gọi là tội giết người, tội sát nhân đầu tiên trong dòng lịch sử nhân loại. Không dễ dàng gì để thực hiện một việc để lại hậu quả đầy đau đớn và bi kịch như vậy. Thế nhưng khi Đức Chúa Trời hỏi, Ca-in còn chối bỏ trách nhiệm:
“Đức Giê-hô-va hỏi Ca-in rằng: A-bên, em ngươi, ở đâu? Thưa rằng: Tôi không biết; tôi là người giữ em tôi sao?” (Sáng Thế Ký 4:9)
Thật ra khi Đức Chúa Trời hỏi, không phải Ngài cần câu trả lời. Cũng tương tự câu hỏi Ngài đã hỏi A-đam — “Ngươi ở đâu?” (Sáng Thế Ký 3:9) — không phải vì Chúa không biết A-đam ở đâu, nhưng với câu hỏi đó Ngài cho con người cơ hội để ăn năn, để thú nhận trước khi mọi sự bị phơi bày, trước khi mọi sự trở nên quá trễ. Câu hỏi “Ngươi ở đâu?” là để cảnh tỉnh A-đam và Ê-va rằng liệu họ có biết mình đang lạc mất hay không. Cũng vậy nơi đây, Đức Chúa Trời chắc chắn biết số phận của A-bên, nhưng với câu hỏi đó Ngài cho Ca-in cơ hội để ăn năn, để xưng nhận điều xấu xa mình đã làm. Nhưng Ca-in vẫn chìm đắm trong tội, chưa ý thức về sự toàn tri của Đức Chúa Trời.
“Đức Giê-hô-va hỏi: Ngươi đã làm điều chi vậy? Tiếng của máu em ngươi từ dưới đất kêu thấu đến ta.” (Sáng Thế Ký 4:10)
Đức Chúa Trời biết tất cả những gì xảy ra trong thế giới của chúng ta. Đừng tin nơi những lời dối trá rằng chúng ta có thể làm việc đó mà không ai biết. Đừng tin nơi hy vọng hão huyền rằng hành động của mình có thể qua mặt được Đấng toàn năng và toàn tri. Nếu từ thuở ban đầu và xuyên suốt dòng lịch sử không có gì che giấu được khỏi Chúa, thì không có lý do gì để nghĩ rằng những việc làm sai trái của mình có thể trôi qua mà không để lại bất kỳ hậu quả nào.
Bài học thứ tư: mọi hành động sai trái đều để lại hậu quả
Bài học nữa nằm ở phần kết của câu chuyện: mọi quyết định, mọi hành động sai trái luôn để lại hậu quả đáng tiếc.
Tưởng rằng chỉ hái một trái cây mà Chúa dặn không nên ăn rồi ăn chỉ là một chuyện nhỏ, nhưng hậu quả của nó không phải chỉ là A-đam và Ê-va bị đuổi khỏi vườn, không phải chỉ là từ nay họ phải lao động vất vả mới có cái ăn — mà thậm chí là tội lỗi và sự chết đã đến trong thế giới này. Trước khi được nằm xuống yên nghỉ, họ còn phải trải qua những ngày dài đối diện với đau buồn. Và rõ ràng ngay giờ phút này họ chứng kiến hai người con của mình: đứa con hiền lành, kính sợ Đức Chúa Trời thì không còn nữa; còn đứa con còn lại là Ca-in phải gánh chịu hậu quả của việc làm sai trái — phải đi rày đây mai đó, phải sống xa lánh mọi người, vì xã hội thời bấy giờ sẽ không chấp nhận hành động sát nhân như vậy.
Ca-in tưởng rằng đó chỉ là một chuyện nhỏ — đơn thuần là mình có gì thì dâng cái đó cho Đức Chúa Trời. Nhưng chỉ một bước sai lầm ban đầu đã dẫn tới những sự trượt sâu hơn, để rồi cuối cùng dẫn tới một bi kịch hoàn toàn ngoài mong muốn.
Mục sư minh họa bằng cuộc đời Giu-đa Ích-ca-ri-ốt, một trong mười hai môn đồ của Đức Chúa Giê-su. Không phải tự nhiên mà một người đang là môn đồ trung tín, bình thường, rồi một ngày bỗng quyết định bán Thầy mình. Đọc trong bốn sách Tin Lành, đặc biệt là những gì Giăng miêu tả, chúng ta thấy vì giữ vai trò quản lý túi tiền của tập thể, Giu-đa đã từng bước tham ô số tiền trong đó, lấy của chung để xài riêng. Rồi đến một lúc số tiền sẵn có không còn đủ cho ông xài, ông quyết định sẵn sàng làm tất cả để có thêm nhiều tiền. Tất cả diễn ra theo một chuỗi trượt dài.
Đó là lý do khi một người ở trong sự sai trái của mình, dưới sự thức tỉnh của Đức Thánh Linh — khi tiếng nói nhỏ nhẹ của Ngài luôn vang bên tai — chúng ta phải chộp lấy cơ hội đó để ăn năn, để quay trở về, trước khi mọi thứ trở nên quá trễ.
Trong sách Tộc Trưởng Và Tiên Tri, bà Ellen White viết rằng A-đam và Ê-va đã kỳ vọng biết bao khi thấy Ca-in ra đời; họ nghĩ đây là Đấng Mê-si của lời hứa, Đấng sẽ giải cứu họ và đưa họ trở lại mối quan hệ mật thiết, yêu thương với Đức Chúa Trời. Nhưng họ hy vọng bao nhiêu thì giờ phút này, trước những hành động và lỗi lầm sai trái của Ca-in, họ lại càng thất vọng bấy nhiêu.
Bài học cuối: trông đợi quê hương đời đời
Điều cuối cùng Mục sư muốn chia sẻ là: trong một thế giới tội lỗi khởi nguồn từ sự sai lầm của tổ phụ và tổ mẫu chúng ta, theo dòng thời gian tội lỗi sẽ càng lúc càng nhiều hơn. Sẽ không bao giờ chúng ta có được một ngày thật sự bình an trọn vẹn trong cuộc đời này. Vẫn sẽ có những khó khăn, những thử thách, những điều xấu xa và đau buồn xảy đến trong thế giới tội lỗi này.
Đó là lý do thế giới này không phải là ngôi nhà bền vững của chúng ta. Như những tấm gương anh hùng đức tin trong Hê-bơ-rơ đoạn 11 — hết người này tới người khác — họ trông mong một xứ sở, một quê hương, một thành tốt đẹp hơn mà Đức Chúa Trời đã sắm sẵn cho họ. Cũng vậy, tất cả chúng ta tin rằng sẽ tới một thời điểm mà thế giới tội lỗi này phải chấm dứt, một thời điểm dòng lịch sử sẽ dừng lại — điều chúng ta gọi là tận thế — một thời điểm Đức Chúa Giê-su trở lại như lời Ngài đã hứa cùng các môn đồ trong đêm cuối cùng trước khi bị đóng đinh:
“Ta đi sắm sẵn cho các ngươi một chỗ. Khi ta đã đi, và đã sắm sẵn cho các ngươi một chỗ rồi, ta sẽ trở lại đem các ngươi đi với ta, hầu cho ta ở đâu thì các ngươi cũng ở đó.” (Giăng 14:2-3)
Chỉ trong ngày trùng phùng với Cứu Chúa của mình, ngày chúng ta bước vào sự yên nghỉ và ơn phước thật sự trong nước vinh hiển mà Đức Chúa Giê-su đang sắm sẵn, chúng ta mới thật sự trải nghiệm được sự bình an và ơn phước trọn vẹn của thiên đàng.
Vậy vẫn sẽ có những ngày đau buồn đến; vẫn sẽ có những ngày mà như A-đam và Ê-va, chúng ta đón nhận tin dữ về những gì đang diễn ra ngay trong chính gia đình mình. Nhưng hy vọng rằng trải qua tất cả những chuyện ấy sẽ dẫn đưa chúng ta càng đến gần Cứu Chúa hơn, để chúng ta không đặt niềm hy vọng và sự trông cậy nơi những thứ tạm bợ của trần thế. Và quan trọng hơn hết, tất cả những biến cố trong cuộc đời sẽ giúp chúng ta càng vững tin hơn và càng trông đợi ngày Cứu Chúa của chúng ta trở lại.