Ba Điều Đức Chúa Giê-su Cầu Xin
Lời cầu nguyện trước thập tự giá
Trong tuần lễ cuối cùng tại thành Giê-ru-sa-lem, vào những giờ phút sau hết trước khi bước vào thập tự giá, Đức Chúa Giê-su đã cất lên một lời cầu nguyện dành cho những người Ngài để lại. Trước mặt Ngài là đồi Gô-gô-tha, là thập tự giá, là gánh nặng tội lỗi của cả nhân loại. Vậy mà Đức Chúa Giê-su không nghĩ về những điều đó cho riêng mình; Ngài nghĩ về các môn đồ, về những khó khăn họ sẽ phải trải qua, và xa hơn nữa Ngài nghĩ về tất cả những người tin Chúa ở mọi thời đại — trong đó có mỗi chúng ta. Mục sư Trần Quốc Khôi mời gọi chúng ta đọc lại chậm rãi lời cầu nguyện này, hòa mình vào bữa tối ấy, để phần nào đồng cảm với tấm lòng của Đấng Cứu Thế và nhận ra ba điều Ngài đã tha thiết cầu xin.
Trong suốt ba năm rưỡi chức vụ, Đức Chúa Giê-su dành phần lớn thời gian cho dân Ngài, cho người Y-sơ-ra-ên. Nhưng đến giờ phút này, các môn đồ lại được trao một trọng trách lớn lao hơn: đem chính Phúc Âm đó, đem tình yêu thương và sự cứu rỗi đó đến cho tất cả mọi người trên thế giới này. Để có thể hoàn thành sứ mạng ấy, điều cốt lõi là họ phải hiệp nhất.
Điều thứ nhất: sự hiệp nhất của những người theo Chúa
Mười hai con người đến từ mười hai bối cảnh khác nhau, mỗi người một cá tính. Có Phi-e-rơ bốc đồng, phần lớn thời gian nói và làm trước khi suy nghĩ. Có Giăng và Gia-cơ đầy cá tính, từng sẵn sàng khiến lửa từ trời xuống thiêu đốt cả một thành khi người ta từ chối tiếp đón Đức Chúa Giê-su. Có người theo chủ trương nâng cao tinh thần dân tộc, chống lại sự áp bức của người La Mã; lại có người trước đó từng cộng tác với chính quyền La Mã trong vai trò người thâu thuế. Mười hai con người khác biệt như vậy, giờ đây phải sống và làm việc cùng nhau, cùng một sứ mạng, mà không còn Đức Chúa Giê-su ở bên. Chính vì thế, điều đầu tiên Ngài cầu xin là họ phải được hiệp một.
Đáng chú ý là Đức Chúa Giê-su không chỉ cầu cho mười hai môn đồ, mà còn cầu cho những người sẽ nghe lời họ mà tin nhận Ngài — tức là cho những người theo Chúa ở mọi thời đại:
“Ấy chẳng những vì họ mà Con cầu xin thôi đâu, nhưng cũng vì kẻ sẽ nghe lời họ mà tin đến Con nữa, để cho ai nấy hiệp làm một, như Cha ở trong Con, và Con ở trong Cha; lại để cho họ cũng ở trong chúng ta, đặng thế gian tin rằng chính Cha đã sai Con đến.” (Giăng 17:20-21)
Chữ “hiệp nhất” được Đức Chúa Giê-su lặp đi lặp lại trong lời cầu nguyện này, hết lần này tới lần khác:
“Con ở trong họ và Cha ở trong Con, để cho họ toàn vẹn hiệp làm một, và cho thế gian biết chính Cha đã sai Con đến, và Cha yêu thương họ cũng như Cha đã yêu thương Con.” (Giăng 17:23)
Đức Chúa Giê-su biết rằng chính sự hiệp nhất sẽ khiến chúng ta bỏ qua những hiềm khích cá nhân, những bất đồng, những khác biệt về văn hóa, con người, bối cảnh, địa vị, học thức — để cùng hướng tới sứ mạng quan trọng mà Đức Thầy đã để lại. Sứ mạng ấy được Ngài giao phó rõ ràng:
“Nhưng khi Đức Thánh Linh giáng trên các ngươi, thì các ngươi sẽ nhận lấy quyền phép, và làm chứng về ta tại thành Giê-ru-sa-lem, cả xứ Giu-đê, xứ Sa-ma-ri, cho đến cùng trái đất.” (Công vụ 1:8)
Sứ mạng bắt đầu từ nơi trung tâm, nơi họ đang ở, rồi từ đó Tin Lành phải lan tỏa ra khắp nơi. Một sứ mạng lớn lao như vậy chỉ có thể thực hiện được khi mỗi người có được sự hiệp nhất.
Mục sư nhắc nhở: mỗi lúc chúng ta bị cám dỗ khăng khăng làm theo đường riêng của mình, mỗi lúc chúng ta sắp nổi giận vì thấy ai đó không nhìn cùng góc nhìn với mình, hãy nhớ lại buổi tối cuối cùng ấy, khi Đức Chúa Giê-su đang nghĩ tới các môn đồ và nghĩ tới mỗi người trong chúng ta. Không chỉ con dân Chúa, mà cả xã hội bên ngoài cũng nhìn nhận điều này: phải đồng lòng, phải thống nhất thì mới làm được việc lớn. Càng được giao phó sứ mạng truyền bá Phúc Âm đến mọi nước, mọi chi phái, mọi tiếng, mọi dân tộc, chúng ta càng phải hiệp nhất hơn.
Trong đời sống chức vụ của mình, Mục sư thú nhận đã không biết bao nhiêu lần đau lòng chứng kiến sự chia rẽ — trong cùng một địa phương, cùng một Hội Thánh, cùng một điểm nhóm, thậm chí mâu thuẫn nhiều khi bắt đầu ngay từ trong gia đình, từ những người gần gũi hơn hết. Khi chúng ta để cho những mầm mống chia rẽ ấy tồn tại, dần dần nó lớn mạnh, trở thành cơ hội để ma quỷ tấn công, khiến sự đồng lòng trong sứ mạng bị suy giảm. Điều đó giải thích vì sao công việc Chúa hoặc không phát triển được, hoặc không phát triển mạnh mẽ như lẽ ra nó có thể. Trong bao nhiêu điều Đức Chúa Giê-su có thể cầu xin, chính điều này đã chiếm phần lớn lời cầu nguyện của Ngài — Ngài mở đầu, lặp lại, và kết thúc bằng nó, cho thấy nó quan trọng đến dường nào đối với Ngài.
Điều thứ hai: được gìn giữ khỏi điều ác nhờ lẽ thật
Điều thứ hai Đức Chúa Giê-su cầu xin liên quan đến chỗ đứng của con dân Chúa giữa thế gian. Chúng ta không thuộc về thế gian này, vì chúng ta đã chọn các nguyên tắc của thiên đàng; nhưng chúng ta vẫn phải sống trong thế gian này. Mỗi ngày, vây quanh chúng ta vẫn là những cám dỗ, những cạm bẫy của ma quỷ. Đó chính là điều Đức Chúa Giê-su quan tâm:
“Con chẳng cầu Cha cất họ khỏi thế gian, nhưng xin Cha gìn giữ họ cho khỏi điều ác. Họ không thuộc về thế gian, cũng như Con không thuộc về thế gian.” (Giăng 17:15-16)
Chúng ta vẫn phải sống trong thế giới tội lỗi này, sống giữa vòng tội lỗi nhưng lại không được dự phần vào những điều gian ác đó. Đức Chúa Giê-su hiểu rõ điều này khó khăn dường nào, vì chính Ngài đã trải nghiệm những gì con người chúng ta trải qua. Tác giả thư Hê-bơ-rơ nhắc rằng chúng ta không có một thầy tế lễ thượng phẩm không thể cảm thương những sự yếu đuối của chúng ta. Đức Chúa Giê-su đã nếm tất cả những gì con người phải đối diện, đã đương đầu với mọi thử thách, chỉ khác là Ngài không để bản thân bị khuất phục bởi cám dỗ. Vì vậy Ngài biết rõ chúng ta cần gì.
Và đây là bí quyết, là nguyên tắc đặc biệt để vượt qua:
“Xin Cha lấy lẽ thật khiến họ nên thánh; lời Cha tức là lẽ thật.” (Giăng 17:17)
Đức Chúa Giê-su để lại một nguyên tắc: chỉ khi mỗi ngày chúng ta được dầm thấm bởi Lời Đức Chúa Trời, học hỏi và được nuôi dưỡng bởi chính Lời ấy, thì Lời của Chúa — tức lẽ thật — mới khiến chúng ta nên thánh, mới giúp chúng ta nhận diện được cạm bẫy của kẻ thù và vượt qua được cám dỗ. Chính Ngài đã làm gương: ở đầu chức vụ, khi ma quỷ cám dỗ ba lần dưới ba hình thức khác nhau, Đức Chúa Giê-su chỉ dùng đúng một phương thức để đối diện với kẻ cám dỗ — đó là dùng chính Lời của Đức Chúa Trời.
Sự đói kém thuộc linh giữa thời dư dật
Mục sư nêu một nghịch lý đáng buồn của thời nay. Chưa bao giờ con người dễ dàng sở hữu Lời Chúa như hiện nay, khi Kinh Thánh được phổ biến rộng rãi đến mọi người. Vậy mà giữa sự dư dật ấy, con người — đặc biệt là Cơ-đốc nhân — lại hơn bao giờ hết rơi vào tình trạng hâm hẩm trong đức tin, rơi vào tình trạng của Hội Thánh Lao-đi-xê: nguội lạnh. Chúng ta không thật sự được sống, được nuôi dưỡng mỗi ngày bởi Lời Đức Chúa Trời. Có rất nhiều Cơ-đốc nhân có thể nói là “nhịn đói” nhiều ngày món thực phẩm thuộc linh này; họ chỉ ăn vào những dịp đặc biệt — khi đi thờ phượng, khi có chương trình bồi linh, những chương trình lớn — còn suốt những ngày còn lại trong tuần, trong năm, đời sống thuộc linh bị bỏ trong sự đói kém, thiếu dinh dưỡng. Nếu điều đó không lành mạnh trong đời sống thể chất, thì trong đời sống thuộc linh lại càng không thể được.
Con người ngày nay đưa ra rất nhiều phương cách để thánh hóa đời sống của mình, nhưng không có cơ sở của Kinh Thánh. Trong khi đó Đức Chúa Giê-su đã khẳng định chỉ có lẽ thật của Chúa mới giúp con người nên thánh. Và để chúng ta khỏi tự giải thích coi “lẽ thật” là gì — bởi hàng ngàn tôn giáo trên thế giới mỗi nơi tự gọi một điều là lẽ thật — chính Đức Chúa Giê-su đã trả lời rõ: “Lời Cha tức là lẽ thật.” Cũng như Ngài, mỗi bước chân của chúng ta chỉ an toàn khi chúng ta thật sự biết Lời Chúa và sống bởi Lời Ngài. Khi hoàn toàn không biết Lời Chúa, khả năng rất cao là chúng ta không vượt qua được cám dỗ; nhưng cũng có những Cơ-đốc nhân biết Lời Chúa mà không áp dụng — cả hai trường hợp đều không ích gì khi đối diện với cám dỗ.
Mục sư nhìn nhận thế giới hôm nay khiến con người quá bận rộn. Theo nghiên cứu, chưa bao giờ con người bận rộn như vậy, bận đến nỗi không còn thời gian nuôi dưỡng các mối quan hệ, không còn thời gian để các thành viên trong gia đình thân mật với nhau. Ông nhắc đến những hoài niệm về một thời người ta dường như có nhiều thời gian cho nhau hơn, ngay cả khi chưa có điện thoại di động để liên lạc tức thì. Ngày nay, nhiều khi nhiều thành viên trong cùng một gia đình, sống chung một mái nhà, lại hoàn toàn mất kết nối với nhau. Trong một thế giới bị chi phối bởi quá nhiều thứ như vậy, việc ngồi yên, buông mọi việc, dành ít phút hoàn toàn đắm mình vào Lời Chúa lại trở thành điều quá xa xỉ.
Hãy thấy được tình trạng thật của mình
Để khỏi bị ru ngủ bởi hình thức bên ngoài, Mục sư mời chúng ta nghe lời kêu gọi và cảnh tỉnh dành cho Hội Thánh Lao-đi-xê:
“Ta khuyên ngươi hãy mua vàng thử lửa của ta, hầu cho ngươi trở nên giàu có; mua những áo trắng, hầu cho ngươi được mặc vào và điều xấu hổ về sự trần truồng ngươi khỏi lộ ra; lại mua thuốc xức mắt đặng thoa mắt ngươi, hầu cho ngươi thấy được.” (Khải Huyền 3:18)
Điều Đức Chúa Giê-su mong mỏi cho các thành viên Hội Thánh Lao-đi-xê là họ thấy được tình trạng thật của mình, để không bị ru ngủ bởi vẻ ngoài và không tiếp tục mù lòa trước sự nghèo ngặt, thiếu thốn về đời sống thuộc linh. Chỉ khi nhận ra con người thật và tình trạng thật của mình, chúng ta mới có cơ may tìm được phương cách chữa lành. Đây là lời nhắc nhở không chỉ dành cho hội chúng mà cả cho chính Mục sư: hãy nghiêm túc xem xét lại coi mình có đang nuôi dưỡng đời sống thuộc linh một cách lành mạnh hay không, có để cho đời sống cá nhân được nuôi dưỡng đều đặn bởi những phần thực phẩm thuộc linh để ngày càng trưởng thành và gần gũi Chúa hơn không. Và sau khi biết tình trạng thật của mình, hãy đáp lại lời kêu gọi mà điều chỉnh lối sống cho phù hợp hơn với Kinh Thánh.
Điều thứ ba: niềm mong mỏi ngày trùng phùng trong sự vinh hiển
Điều thứ ba Đức Chúa Giê-su cầu xin bày tỏ tấm lòng không muốn chia lìa của Ngài:
“Cha ơi, Con muốn Con ở đâu thì những kẻ Cha đã giao cho Con cũng ở đó với Con, để họ ngắm xem sự vinh hiển của Con, là vinh hiển Cha đã ban cho Con, vì Cha đã yêu Con trước khi sáng thế.” (Giăng 17:24)
Tuy chỉ gần gũi nhau ba năm rưỡi, Đức Chúa Giê-su và các môn đồ quả thật như một gia đình. Họ đã cùng chia sẻ với nhau, đã chứng kiến những phép lạ của Chúa, đã nhiều lần thấy Ngài bày tỏ sự vinh hiển của Đức Chúa Trời; nhưng cũng không ít lần họ chứng kiến Ngài bị người ta ruồng bỏ, bị hãm hại, bị các thầy thông giáo và người Pha-ri-si tìm mưu kế hại Ngài. Với những sự chia sẻ sâu đậm như vậy, rõ ràng Đức Chúa Giê-su không muốn có sự chia lìa. Dẫu biết mình phải về trời, Ngài đang ngóng trông tới ngày Ngài và các môn đồ được trùng phùng — và lần gặp gỡ đó sẽ không bao giờ còn có cuộc chia ly.
Đương nhiên không phải chỉ các môn đồ. Đức Chúa Giê-su đã hứa rằng Ngài đi sắm sẵn cho chúng ta một chỗ, và khi đã đi sắm sẵn rồi, Ngài sẽ trở lại. Trong ngày Ngài trở lại đó, không phải chỉ Chúa và các môn đồ gặp lại nhau, mà tất cả những người tin Chúa ở mọi thời đại — quý ông bà anh chị em cũng như chính Mục sư — sẽ có cơ hội mặt đối mặt với Đấng Cứu Thế của mình. Và rồi không một điều gì trong thế giới này còn có thể phân rẽ Cứu Chúa với con dân Ngài nữa.
Đây chính là tấm lòng của Đức Chúa Giê-su trong những giây phút cuối cùng trên đất: tất cả những gì trong suy nghĩ của Ngài đều xoay quanh con người — Ngài nghĩ tới các môn đồ là những người gần gũi nhất, và xa hơn là tất cả những người tin Chúa ở mọi thời đại.
Ngày trùng phùng không còn xa
Dựa vào những gì Đức Chúa Giê-su đã nói trước với các môn đồ trong Ma-thi-ơ 24, Mục sư nhận định rằng những dấu hiệu của ngày Ngài Tái Lâm tất cả đều đã chín muồi. Hơn bao giờ hết, chúng ta biết ngày mà Đức Chúa Giê-su hằng mong mỏi — ngày “Con muốn Con ở đâu thì những kẻ Cha đã giao cho Con cũng ở đó với Con” — ngày trùng phùng đó quả thật không còn xa nữa.
Ước mong đây sẽ là lời cảnh tỉnh để mỗi chúng ta xem xét lại đời sống cá nhân, đời sống tâm linh của mình, và bảo đảm rằng trong sự kiện quan trọng nhất của lịch sử nhân loại — ngày Đức Chúa Giê-su trở lại thế giới này — tất cả chúng ta đều sẵn sàng cho ngày lớn và vinh hiển đó. A-men.