Em-ma-nu-ên - Đức Chúa Trời ở cùng chúng ta

Giới thiệu

Thưa quý vị, “Em-ma-nu-ên” — “Đức Chúa Trời ở cùng chúng ta” (Ma-thi-ơ 1:23; Ê-sai 7:14). Danh xưng ấy, ngắn gọn vậy thôi mà chứa đựng cả một mầu nhiệm vĩ đại: Đức Chúa Trời không ngự mãi trên cao xa vời vợi, mà đã hạ mình bước vào giữa lòng nhân thế, mang lấy xác thịt, sống giữa chúng ta. Ấy vậy mà, danh xưng thiêng liêng ấy lâu nay vẫn cứ là đầu mối cho lắm cuộc tranh cãi, lắm sự hiểu lầm, thậm chí là những luận điệu cố tình xuyên tạc, làm lung lạc đức tin của không ít người. Người ta cứ vin vào chỗ này, níu vào chỗ kia, rồi thì phán như đúng rồi rằng Ngài chỉ là một bậc vĩ nhân, một tạo vật cao trọng, chứ nào phải là Đức Chúa Trời hiện thân. Đó quả là một sự nguy hiểm, một sự lệch lạc cần phải được xét lại cho tường tận.

Bài viết này, xin được góp một tiếng nói, lấy chính danh xưng Em-ma-nu-ên làm sợi chỉ đỏ xuyên suốt, thử đem những mối tương quan nền tảng của Đức Chúa Giê-su ra mà phân giải, soi xét. Nào là địa vị Con Một độc nhất vô nhị với Đức Chúa Cha — Đức Chúa Trời ở cùng chúng ta trong bản thể, nào là vai trò Anh Cả khai mở con đường cho một gia đình thuộc linh mới — Đức Chúa Trời ở cùng chúng ta trong tình thân, rồi đến hình ảnh Chàng Rể thiêng liêng của Hội Thánh — Đức Chúa Trời ở cùng chúng ta trong giao ước yêu thương. Đây không phải là những danh xưng suông, những ví von hoa mỹ cho vui tai, mà chính là những chìa khóa cốt tủy để hiểu đúng về Ngài, để từ đó mà có cơ sở vững chắc mà phản bác những tà thuyết phủ nhận thần tính cao cả của Đấng Christ. Chúng ta sẽ cùng nhau “lật lại” những trang Thánh Kinh, để xem thử chữ “sanh” trong gia phả Ngài có thực sự là cái cớ để người ta hạ thấp Ngài như vậy chăng, hay đó chỉ là một sự ngộ nhận tai hại.

Đồng bản thể — Cha và Con hiệp một
Đồng bản thể — Cha và Con hiệp một

I. Đức Chúa Giê-su – Con Một của Đức Chúa Cha

Thưa quý vị, bàn đến ngôi vị của Đức Chúa Giê-su, thì mối tương quan giữa Ngài với Đức Chúa Cha chính là then chốt, là nền móng vậy. Có kẻ hiểu lầm, có kẻ cố tình xuyên tạc, rằng Ngài tuy cao trọng đấy, nhưng cũng chỉ là một tạo vật được Đức Chúa Cha sanh ra, tức là có sau, có kém. Một sự lầm lẫn tai hại như thế, cần phải xét lại cho minh bạch.

Xưng Nhận Thần Tính và Sự Hiệp Nhất với Cha

Chính Đức Chúa Giê-su, Ngài đã phán rành rành: “Ta với Cha là một” (Giăng 10:30). Chữ “một” ở đây, nào phải là một lòng một ý như hai người bạn tâm giao. Người Do Thái hồi đó, họ đâu có ngây ngô đến thế. Họ nghe, họ hiểu ngay là Ngài tự xưng mình ngang hàng với Đức Chúa Trời, nên mới đòi ném đá Ngài vì tội “phạm thượng” (Giăng 10:33). Rõ như ban ngày, còn gì nữa mà bàn!

Mà không chỉ có thế. Có lần, bọn người Giu-đa cật vấn Ngài, khoe khoang tổ phụ Áp-ra-ham của họ. Ngài ôn tồn bảo: “Áp-ra-ham, tổ phụ các ngươi, đã vui mừng hớn hở vì sẽ thấy ngày của Ta; người đã thấy và đã mừng rỡ.” Họ trợn mắt, nói khích: “Ngươi chưa đầy năm mươi tuổi mà đã thấy Áp-ra-ham sao?” Lúc này đây, Ngài mới tung ra một “quả bom” thật sự, một lời phán khiến trời đất phải nghiêng ngả: “Quả thật, quả thật, Ta nói cùng các ngươi, trước khi có Áp-ra-ham, đã có Ta (πρὶν Ἀβραὰμ γενέσθαι ἐγὼ εἰμί - prin Abraam genesthai EGŌ EIMI).” (Giăng 8:58). Thưa quý vị, cái chữ “Ta là” (ἐγὼ εἰμί - Egō Eimi) này, nó không phải là một lối xưng hô thường tình đâu. Nó chính là âm hưởng của danh xưng thiêng liêng mà Đức Giê-hô-va đã dùng để tỏ mình ra cho Môi-se trong bụi gai cháy: “TA LÀ ĐẤNG TỰ HỮU HẰNG HỮU” (Xuất Ê-díp-tô Ký 3:14). Bọn người Giu-đa nghe vậy, liền lượm đá toan ném Ngài. Tại sao? Vì họ biết tỏng Ngài đang dùng chính danh xưng của Đức Chúa Trời để nói về mình, tự đặt mình ngang hàng với Đấng Tự Hữu Hằng Hữu, hiện hữu từ trước cả Áp-ra-ham, từ trước cả thời gian! Một lời xưng nhận thần tính không thể nào úp mở hơn được nữa!

Rồi lại xem chuyện ngày Sa-bát. Ngày Sa-bát ấy, theo Cựu Ước, là ngày của ai? Là ngày của Đức Chúa Trời chứ ai vào đấy! Chính Ngài đã nghỉ ngơi trong ngày thứ bảy sau khi dựng nên trời đất, và biệt riêng ngày đó ra thánh (Sáng thế ký 2:2-3). Ấy là một điều răn cốt tử trong luật Môi-se. Thế mà, khi bọn người Pha-ri-si bắt bẻ môn đồ Ngài bứt lúa mì trong ngày Sa-bát, Đức Chúa Giê-su đã phán một câu khiến họ phải sững sờ: “Vì Con Người cũng là Chúa của ngày Sa-bát.” (Ma-thi-ơ 12:8; Mác 2:28). Ô hay! “Chúa của ngày Sa-bát”! Chỉ có Đấng thiết lập ra luật lệ mới có quyền trên luật lệ ấy. Ngài không nói mình tuân giữ ngày Sa-bát, mà Ngài xưng mình là Chúa của nó, có thẩm quyền giải nghĩa đúng đắn mục đích và ý nghĩa của nó — không phải để bãi bỏ, mà để phục hồi ngày Sa-bát về đúng ý định ban đầu của Đấng Tạo Hóa, giải phóng nó khỏi những lớp luật lệ nặng nề mà người Pha-ri-si đã chồng chất lên. Điều này có khác nào tuyên bố rằng Ngài có thẩm quyền thần thượng, ngang hàng với Đức Chúa Cha, Đấng đã khởi nguồn ngày Sa-bát? Đây không phải là lời của một nhà cải cách tôn giáo khôn ngoan, mà là lời của Đấng Tạo Hóa, Đấng đã thiết lập ngày Sa-bát từ thuở sáng thế và tiếp tục khẳng định giá trị trường tồn của nó!

Mà quyền năng ghê gớm hơn nữa, ấy là quyền tha tội! Ta thử hỏi, tội lỗi là gì? Thánh Giăng đã định nghĩa rành rọt: “Ai phạm tội tức là phạm luật pháp; và sự tội lỗi tức là sự phạm luật pháp” (1 Giăng 3:4). Mà luật pháp ấy, là luật của ai? Là luật của Đức Chúa Trời, là những điều răn mà Ngài đã đặt ra cho mối tương giao giữa Ngài và con người. Thế thì, khi một kẻ phạm tội, tức là đã xúc phạm đến Đức Chúa Trời, đã làm trái nghịch với Đấng Chí Thánh. Vậy, ai có quyền tha tội ấy? Có phải là một người thường, một thiên sứ, hay một tạo vật nào đó không? Thưa không! Chỉ có Đấng bị xúc phạm, Đấng mà luật pháp của Ngài bị vi phạm, mới có quyền tối thượng để tha thứ. Thế mà, khi người ta khiêng đến một kẻ bại nằm trên giường, Đức Chúa Giê-su đã phán cùng kẻ ấy thế nào? “Hỡi con, hãy vững lòng, tội lỗi con đã được tha.” (Ma-thi-ơ 9:2). Nghe vậy, mấy thầy thông giáo liền xầm xì: “Người nầy nói phạm thượng!” Họ nghĩ đúng đấy chứ! Nếu Giê-su chỉ là người thường, thì đó đích thị là phạm thượng, là lạm quyền. Nhưng Ngài đâu có dừng lại ở đó. Để chứng minh mình có quyền tha tội trên đất, Ngài liền phán với kẻ bại: “Hãy đứng dậy, vác giường mà đi về nhà!” Tức thì kẻ ấy đứng dậy mà đi. Quyền năng chữa bệnh đi kèm với quyền năng tha tội! (Ma-thi-ơ 9:5-7; Mác 2:5-12). Hành động tha tội này, nó còn hơn cả việc tự xưng là “Ta là” hay “Chúa của ngày Sa-bát”. Nó là một sự khẳng định không úp mở về việc Ngài chính là Đức Chúa Trời, Đấng duy nhất có quyền xóa bỏ món nợ tội lỗi của nhân loại. Kẻ nào chối bỏ thần tính của Ngài, thử hỏi xem họ giải thích quyền tha tội này ra làm sao cho xuôi?

Mà đây, ta phải nhìn cho sâu hơn nữa. Cả hệ thống tế lễ trong Cựu Ước — nào là con sinh bị giết, nào là huyết bôi lên bàn thờ, nào là ngày Đại Lễ Chuộc Tội (Lê-vi Ký 16) — tất cả đều chỉ là hình bóng, là “bản sao của những sự trên trời” (Hê-bơ-rơ 9:23). Mỗi con chiên bị giết trong đền tạm, mỗi giọt huyết rảy trên nắp thi ân, đều chỉ về một thực tại lớn hơn: ấy là Đấng Christ, “Chiên Con của Đức Chúa Trời, là Đấng cất tội lỗi thế gian đi” (Giăng 1:29). Vậy thì, khi Đức Chúa Giê-su phán “tội lỗi con đã được tha”, Ngài không chỉ đang tuyên bố quyền năng thần thượng, mà còn đang ứng nghiệm cả một hệ thống tế lễ đã kéo dài hàng ngàn năm. Ngài chính là antitype — thực thể mà mọi hình bóng tế lễ đều hướng về. Thầy tế lễ trong Cựu Ước chỉ có thể chuyển tội qua con sinh; còn Đức Chúa Giê-su, Ngài tha tội bằng chính thẩm quyền của mình, vì Ngài vừa là Thầy Tế Lễ Thượng Phẩm, vừa là Của Lễ Toàn Hảo (Hê-bơ-rơ 9:11-14).

Mà lạ chưa, ngay cả trong Cựu Ước, khi tiên tri Ê-sai loan báo về sự ra đời của Đấng Mê-si-a, ông đã dùng những danh xưng nào để gọi Ngài? “Vì có một con trẻ sanh cho chúng ta, tức là một con trai ban cho chúng ta; quyền cai trị sẽ nấy trên vai Ngài. Ngài sẽ được xưng là Đấng Lạ lùng, là Đấng Mưu luận, là Đức Chúa Trời Quyền năng, là Cha Đời đời, là Chúa Bình an.” (Ê-sai 9:5; 9:6 theo một số bản dịch). Nghe cho kỹ nhé, “Đức Chúa Trời Quyền năng”, “Cha Đời đời”! Một “con trẻ sanh ra”, một “con trai ban cho”, mà lại được gọi là “Cha Đời đời”, là “Đức Chúa Trời Quyền năng”. Thế thì danh xưng “Con” khi áp dụng cho Đấng Mê-si-a, nó đâu có thể nào chỉ đơn thuần là một tạo vật được sanh ra theo nghĩa thông thường được! Nó phải hàm chứa một mầu nhiệm sâu xa về bản thể, một sự hiệp nhất giữa vai trò “Con” trong mối quan hệ cứu chuộc và bản chất “Cha Đời đời” trong thần tính vĩnh cửu của Ngài. Lời tiên tri này, nó như một ngọn đuốc soi rọi, cho thấy rằng thần tính và sự đồng đẳng của Đấng Christ với Đức Chúa Cha đã được báo trước từ lâu.

Đấy, những bằng chứng thép ấy, chúng cho thấy rõ ràng sự tự nhận thức về thần tính của chính Đức Chúa Giê-su. Rồi xem lời cầu nguyện của Ngài trước khi chịu nạn (Giăng 17:1-5) mà xem. Ngài thưa với Đức Chúa Trời là “Cha”, xin Cha làm vinh hiển Con, để Con làm vinh hiển Cha. Mà sự vinh hiển ấy, Ngài nói rõ nhé, là “sự vinh hiển Con vốn có nơi Cha trước khi thế gian được tạo dựng.” Hỡi ôi, một tạo vật, dù cao trọng đến mấy, làm sao mà có được vinh hiển “trước khi thế gian được tạo dựng”? Chỉ có Đấng Tạo Hóa mới có đặc quyền ấy mà thôi. Lời ấy chẳng những cho thấy mối dây liên lạc mật thiết, vĩnh cửu, mà còn là một bằng chứng không thể chối cãi về sự hiện hữu tiền tồn của Ngài.

Có kẻ lại vịn vào câu “Con không thể tự mình làm bất cứ điều gì, nhưng chỉ làm điều Con thấy Cha làm” (Giăng 5:19) để nói rằng Ngài lệ thuộc, Ngài yếu kém. Thưa, hiểu như vậy là trật lất! Đó là Ngài nói về sự hiệp nhất hoàn hảo trong ý muốn và hành động, là sự vâng phục yêu thương trong Ba Ngôi hiệp nhất, chứ nào phải sự bất lực của một kẻ được tạo dựng.

Ngài còn phán: “Ai thấy Ta là thấy Cha” (Giăng 14:9), và “Ngoài Cha không ai biết Con; ngoài Con và người nào Con muốn bày tỏ, cũng không ai biết Cha” (Ma-thi-ơ 11:27). Lời lẽ ấy khẳng định một địa vị độc nhất vô nhị, một sự thông hiểu tuyệt đối giữa Cha và Con mà không một tạo vật nào, dù cao trọng đến mấy, có thể xen vào được.

Xác Nhận từ Đức Chúa Cha

Chuyện Con tự xưng mình là Đức Chúa Trời, đó là một lẽ. Nhưng mà thưa quý vị, đâu phải chỉ có một mình Ngài nói thế. Chính Đức Chúa Cha, từ trên ngôi cao vời vợi, cũng đã không ít lần “lên tiếng”, dùng đủ cách để mà xác nhận cho rõ ràng địa vị Con Một yêu dấu của Ngài. Cứ xem đây thì biết:

  1. Thứ nhất, lúc Đức Chúa Giê-su chịu phép báp-têm nơi sông Giô-đanh. Vừa lúc Ngài từ dưới nước bước lên, thì kìa, trời mở ra, có tiếng từ trên trời phán xuống, rành rọt như sấm dậy, mà lại êm ái như lời Cha với Con: “Nầy là Con yêu dấu của Ta, đẹp lòng Ta mọi đàng.” (Ma-thi-ơ 3:17). Mà lạ chưa, không chỉ có tiếng phán đâu nhé, Đức Thánh Linh còn lấy hình chim bồ câu đáp xuống đậu trên Ngài. Cả Ba Ngôi Đức Chúa Trời cùng hiện diện một lúc, để làm gì? Để đóng dấu son vào căn cước “Con Yêu Dấu” ấy chứ còn gì nữa! Đây không phải là lời khen một đứa con ngoan, mà là một sự công bố thiên thượng, cho cả đất trời đều hay: Đây chính là Con của Đức Chúa Trời!
  2. Thứ hai, sự lạ lùng trên Núi Hóa Hình. Chuyện này còn rõ hơn ban ngày. Trước mặt ba môn đồ thân tín là Phê-rơ, Gia-cơ và Giăng, Đức Chúa Giê-su bỗng dưng biến đổi dung nhan, sáng lòa như mặt trời. Đến cả hai bậc đại tiên tri là Mô-sê và Ê-li cũng phải hiện về đàm đạo. Đang lúc ấy, một đám mây sáng rực bao trùm lấy họ, rồi từ trong đám mây lại có tiếng phán ra, còn đanh thép hơn trước: “Nầy là Con yêu dấu của Ta, đẹp lòng Ta mọi đàng; các ngươi hãy vâng nghe lời Người!” (Ma-thi-ơ 17:5). Đấy, đâu chỉ công nhận là “Con yêu dấu”, mà còn ra lệnh rành rành: “các ngươi hãy vâng nghe lời Người!”. Nghe ai? Nghe Con của Ngài chứ còn ai vào đấy nữa! Chẳng lẽ Đức Chúa Trời lại hạ mình xuống mà bảo loài người phải vâng nghe một tạo vật ngang hàng với chính Ngài hay sao? Cái lý ấy nó ngược đời lắm! Lời này, nó như khắc vào bia đá, không chỉ cho ba ông môn đồ kia, mà cho cả Hội Thánh đến muôn đời sau: địa vị của Đấng Christ là tột đỉnh, lời của Ngài là lời của Đức Chúa Trời phán ra.
  3. Thứ ba, cách Đức Chúa Cha chứng thực qua chính những việc làm của Con Ngài. Chính Đức Chúa Giê-su cũng đã bày tỏ rõ ràng rồi đấy thôi: “Ta có một lời chứng lớn hơn của Giăng; vì những công việc Cha đã giao cho Ta để làm trọn, tức là chính những công việc Ta làm, đã làm chứng về Ta rằng Cha đã sai Ta.” (Giăng 5:36). Thế thì, những phép lạ làm cho kẻ què đi được, kẻ mù được sáng, kẻ chết sống lại, rồi thì đi trên mặt biển như đi trên đất liền, những lời phán đầy quyền năng khiến ma quỷ phải vâng phục… những điều ấy tự đâu mà ra? Chính là “chữ ký”, là “dấu ấn” của Đức Chúa Cha đóng vào từng việc Con Ngài làm. Mỗi một phép lạ, nó như một lời tuyên bố không cần âm thanh của Cha rằng: “Đây chính là Con Ta đó, đang làm công việc của Ta đây.”
  4. Thứ tư, tiếng đáp từ trời khi Đức Chúa Giê-su cầu xin Cha làm vinh hiển Danh Ngài, ngay trước mặt đám đông. Lúc dân chúng đang xôn xao bàn tán, Ngài ngước mắt lên trời cầu rằng: “Cha ơi, xin làm vinh hiển Danh Cha!” (Giăng 12:28). Thì ngay tức khắc, có tiếng từ trên trời đáp lại, vang dội đến nỗi có kẻ tưởng là sấm động, người lại ngỡ là thiên sứ nói: “Ta đã làm vinh hiển Danh Ta rồi, Ta sẽ còn làm vinh hiển Danh Ta nữa!” Tiếng đáp này, rành rành là của Đức Chúa Cha, công khai ngay giữa thanh thiên bạch nhật, xác nhận Ngài hoàn toàn đồng ý, hoàn toàn chung vai sát cánh với công cuộc của Chúa Con. Việc Con làm vinh hiển Cha, rồi Cha lại làm vinh hiển Con (như trong Giăng 17), nó phơi bày một sự hiệp nhất, một sự đồng đẳng trong công việc mà không ai có thể cãi vào đâu được.
  5. Thứ năm, và cũng là bằng chứng hùng hồn nhất, không lời nào tả xiết: ấy là sự Phục Sinh! Dẫu cho lúc Ngài từ cõi chết sống lại, không có tiếng phán trực tiếp từ Cha vọng xuống, nhưng chính hành động khiến Con Ngài toàn thắng sự chết, bước ra khỏi mồ mả, chính là lời xác nhận vĩ đại và cuối cùng của Đức Chúa Cha. Thánh Phao-lô đã viết rõ như thế này: “…và bởi sự sống lại của Ngài từ trong kẻ chết, thì đã được tỏ ra là Con Đức Chúa Trời có quyền phép…” (Rô-ma 1:4). Thử hỏi, nếu Ngài chỉ là một con người, dù có thánh thiện đến bậc nào đi nữa, thì Đức Chúa Cha có cần phải làm một việc kinh thiên động địa như vậy để mà chứng thực cho Ngài không? Sự phục sinh ấy, nó là ấn tín vàng ròng của Đức Chúa Cha đóng lên toàn bộ cuộc đời và sứ mạng của Đức Chúa Giê-su, như một lời tuyên bố với cả vũ trụ này rằng: “Đây đích thực là Con Ta, Đấng đã đạp tan xiềng xích của sự chết, Đấng mà Ta đã tôn lên làm Chúa, làm Christ!”

Đó, từ lời phán như sấm trên sông Giô-đanh, đến vinh quang chói lòa trên núi thánh, rồi những phép lạ nối tiếp nhau, tiếng đáp giữa ba quân, và cuối cùng là ngôi mộ trống không, tất cả đều là những dấu son không thể phai mờ, những lời chứng không thể chối cãi mà chính Đức Chúa Cha đã đóng vào địa vị độc nhất, thiêng liêng của Đức Chúa Con. Chối làm sao được nữa mà chối, phải không thưa quý vị?

Thầy Tế Lễ Thượng Phẩm — Đấng dâng chính mình làm của lễ
Thầy Tế Lễ Thượng Phẩm — Đấng dâng chính mình làm của lễ

Phê Phán Quan Điểm Sai Lệch Phủ Nhận Thần Tính

Vậy mà, có những người, như mấy ông bạn Nhân Chứng Giê-hô-va chẳng hạn, cứ khăng khăng vịn vào chữ “Con”, rồi chữ “sanh” (begotten) để mà hạ thấp Đức Chúa Giê-su xuống hàng một vị thần nhỏ, một thiên sứ cao cấp, hay là một tạo vật đầu tiên. Họ lý luận rằng “sanh” tức là được tạo ra, có một khởi đầu. Một cách hiểu máy móc, nông cạn làm sao!

Chữ “Con Một” (monogenes) trong tiếng Hy Lạp, nó không có nghĩa là “được tạo ra” theo kiểu thời gian như ta vẫn hiểu. Nó có nghĩa là “độc nhất vô nhị về bản thể”, “thuộc cùng một loại”, “có một không hai”. Về mặt lịch sử, Tín điều Nicene (325 SCN) cũng đã ghi nhận điều này khi dùng cụm từ “được sanh ra chứ không phải được tạo thành” — dù đây là văn kiện do con người soạn thảo, không mang thẩm quyền ngang hàng với Thánh Kinh, nhưng nó phản ánh đúng những gì chính Thánh Kinh đã dạy. Căn cứ vào Lời Đức Chúa Trời, mối tương quan giữa Cha và Con là mối tương quan vĩnh cửu, đồng bản thể — không có khởi đầu trong thời gian, không phải một sự tạo dựng.

Sự Thờ Phượng Chiên Con — Khải Huyền 5

Mà này, còn một cái lẽ nữa, nó rành rành như mặt trời giữa trưa, mà mấy vị kia cứ cố tình lờ đi. Ấy là cái cảnh tượng huy hoàng trong sách Khải Huyền đoạn 5, khi ông Giăng được thấy trên trời. Nào là bốn con sanh vật, nào là hai mươi bốn trưởng lão, rồi thì hằng hà sa số thiên sứ, tất cả đều đồng thanh mà hát rằng: “Chiên Con đã chịu giết đáng được quyền phép, giàu có, khôn ngoan, năng lực, tôn trọng, vinh hiển và ngợi khen!” (Khải Huyền 5:12). Rồi ông Giăng còn nghe rõ: “Tôi lại nghe mọi vật dựng nên trên trời, dưới đất, bên dưới đất, trên biển, cùng mọi vật ở đó đều nói rằng: Chúc cho Đấng ngồi trên ngôi cùng Chiên Con được ngợi khen, tôn trọng, vinh hiển và quyền phép cho đến đời đời!” (Khải Huyền 5:13).

Thưa quý vị, “Chiên Con” ở đây, ai mà không biết là chỉ về Đức Chúa Jesus Christ? Mà cái sự “ngợi khen, tôn trọng, vinh hiển và quyền phép” kia, nó là cái gì, nếu không phải là sự thờ lạy? Cả trời đất, cả tạo vật hữu hình lẫn vô hình, đều sấp mình xuống mà tôn thờ Chiên Con, y như tôn thờ Đấng ngồi trên ngôi vậy!

Thế thì, ta phải hỏi: một tạo vật, dù có cao trọng đến bậc thiên sứ trưởng đi chăng nữa, có đời nào lại được cả vũ trụ này quỳ mọp xuống mà thờ lạy như thế không? Làm sao mà có cái chuyện tréo ngoe như vậy được? Ấy là nó đi ngược lại cái điều răn thứ nhất, cái điều răn đứng đầu trong Mười Điều Răn mà chính Đức Chúa Trời đã phán ra: “Trước mặt ta, ngươi chớ có các thần khác.” (Xuất Ê-díp-tô Ký 20:3). Lại nữa, chính Đức Chúa Trời cũng phán: “Ta là Đức Giê-hô-va, ấy là danh Ta. Ta chẳng nhường sự vinh hiển Ta cho một đấng nào khác, cũng không nhường sự tôn trọng Ta cho các tượng chạm.” (Ê-sai 42:8).

Nếu Chiên Con chỉ là một tạo vật, dù là tạo vật đầu tiên hay cao cấp nhất, mà lại được hưởng sự thờ phượng ngang hàng với Đấng Tạo Hóa, thì khác nào Đức Chúa Trời tự mâu thuẫn với chính mình? Khác nào Ngài dung túng cho một sự thờ lạy hình tượng tinh vi nhất? Cái lý luận ấy, nó không đứng vững được một giây! Chỉ có một lời giải thích duy nhất cho cái cảnh tượng thờ lạy Chiên Con trong Khải Huyền: ấy là vì Chiên Con chính là Đức Chúa Trời hiện thân, là Ngôi Hai trong Ba Ngôi Đức Chúa Trời, đồng đẳng, đồng vinh hiển với Đức Chúa Cha và Đức Thánh Linh. Chối vào đâu được nữa mà chối! Cái sự thờ phượng phổ quát mà Chiên Con nhận được, nó là một cái dấu ấn không thể phai mờ, một lời tuyên bố hùng hồn nhất về thần tính tuyệt đối của Ngài.

Thánh Kinh còn đầy dẫy những bằng chứng không thể chối cãi về thần tính của Ngài. Giăng 1:1 chép: “Ban đầu có Ngôi Lời, Ngôi Lời ở cùng Đức Chúa Trời, và Ngôi Lời là Đức Chúa Trời.” Đến như câu này, thì mấy ông bạn kia lại cố tình dịch trẹo đi trong bản Thánh Kinh của họ thành “Ngôi Lời là một thần” (a god). Cái mẹo ấy, các nhà học giả chân chính họ đã vạch ra từ lâu rồi, rằng nó không đúng với văn phạm Hy Lạp, cũng chẳng đúng với mạch văn.

Rồi khi Thô-ma, một kẻ đa nghi có tiếng, thấy Chúa phục sinh, ông đã phải thốt lên: “Lạy Chúa tôi và Đức Chúa Trời tôi!” (Giăng 20:28). Đức Chúa Giê-su có quở ông đâu? Ngài còn khen đức tin của ông nữa là khác. Hê-bơ-rơ 1:8 thì chép lời Đức Chúa Cha phán về Con: “Hỡi Đức Chúa Trời, ngôi Chúa còn đến đời đời.” Cô-lô-se 2:9 thì khẳng định chắc nịch: “Vì trong Ngài [Đấng Christ], tất cả sự viên mãn của Thần Tính đều hiện hữu cách cụ thể.” “Thần Tính” (Theotēs) ở đây là nói về chính bản thể Đức Chúa Trời đó.

Đặc biệt chỗ Cô-lô-se 1:15-17, người ta hay hiểu lầm chữ “Con đầu lòng của mọi vật dựng nên” (prototokos). “Đầu lòng” ở đây, nó có nghĩa là “địa vị tối cao”, “quyền thừa kế trên mọi tạo vật”, chứ nào phải là “tạo vật được sanh ra đầu tiên”. Bởi vì mấy câu sau đã giải thích rành rành: “Vì muôn vật đã được dựng nên TRONG Ngài… muôn vật đều bởi Ngài và VÌ Ngài mà được dựng nên cả. Ngài có trước muôn vật.” Thế thì rõ ràng Ngài là Đấng Tạo Hóa, chứ còn là tạo vật nỗi gì nữa?

Còn những chỗ nói Ngài vâng phục Cha, hay “Cha Ta lớn hơn Ta” (Giăng 14:28), là nói về vai trò, chức năng của Ngài khi hạ mình xuống thế làm người, làm Đấng Cứu Chuộc. Mà chỗ Phi-líp 2:5-11, ông Phao-lô đã vẽ ra cái bức tranh ấy rõ ràng lắm. Câu 6 chép rằng Ngài “vốn có hình thể của Đức Chúa Trời” — chữ “hình thể” đây, tiếng Hy Lạp là morphē Theou, nó không phải chỉ là cái vỏ bề ngoài, cái dáng vẻ hình thức đâu. Không! Morphē trong tiếng Hy Lạp nó chỉ về bản chất bên trong, cái thực thể cốt lõi. Nói Ngài có morphē Theou tức là nói bản thể Ngài chính là Đức Chúa Trời, Ngài sở hữu mọi thuộc tính thần thượng một cách trọn vẹn. Rồi Ngài “chẳng coi sự bình đẳng với Đức Chúa Trời là điều nên nắm giữ” — nghĩa là Ngài VỐN bình đẳng với Cha, nhưng tự nguyện không bám víu vào đặc quyền ấy, mà hạ mình xuống “lấy hình thể của tôi tớ” (morphē doulou) và “trở nên giống như loài người” (câu 7-8). Đó là sự tự hạ trong vai trò (functional subordination), chứ nào phải bản thể Ngài thua kém (ontological subordination). Giống như một ông vua đi vi hành, tuy ăn mặc như thường dân, nhưng bản chất đế vương của ông vẫn còn đó.

Thiết tưởng, nếu Đức Chúa Giê-su không phải là chính Đức Chúa Trời nhập thể, thì sự chết của Ngài trên thập tự giá làm sao mà đủ giá trị để chuộc tội cho cả nhân loại được? Chỉ có Đấng Tạo Hóa mới có quyền năng và phẩm giá vô hạn để làm việc vĩ đại ấy. Một lẽ rất dễ hiểu, mà người ta cứ cố tình làm cho nó rối beng lên.

Anh Cả dẫn đoàn em — Đấng Christ dẫn dắt con cái Đức Chúa Trời
Anh Cả dẫn đoàn em — Đấng Christ dẫn dắt con cái Đức Chúa Trời

II. Con Người – Con Cái của Đức Chúa Trời và Em của Đức Chúa Giê-su

Đức Chúa Giê-su không chỉ là Con Một của Đức Chúa Cha mà còn mở ra con đường để con người có thể trở thành con cái của Đức Chúa Trời. Trong ý nghĩa này, những người tin Ngài trở thành anh em với nhau, với Đức Chúa Giê-su là Anh Cả - vai trò vừa mang tính đặc quyền vừa mang tính trách nhiệm.

Phân Biệt “Con Độc Sanh” và “Con Nuôi” — Monogenēs vs Huiothesia

Mà nói đến cái chữ “Con Độc Sanh” (μονογενής υἱός - monogenēs huios) này, có kẻ lại vội vàng kết luận rằng nếu là “độc sanh”, tức là chỉ có một, không thể có con nào khác. Rồi họ lại chỉ ngay vào chỗ Kinh Thánh nói Đức Chúa Jesus là “Anh Cả” (Rô-ma 8:29) của nhiều anh em, và rằng những người tin cũng được gọi là “con cái Đức Chúa Trời” (Giăng 1:12). Thế là họ vỗ đùi, cho rằng đã tìm ra một cái mâu thuẫn rành rành! Họ bảo: “Đã độc sanh thì làm sao có em? Đã là Anh Cả thì sao còn gọi là độc sanh? Rõ ràng là lời Kinh Thánh tự nó đá nhau, hoặc là cái thần tính của Đức Jesus có vấn đề!”

Thưa, hiểu như vậy là mới thấy cái vỏ mà chưa thấy cái ruột, mới nghe tiếng sấm mà chưa thấy cơn mưa! Phải phân biệt cho rạch ròi:

  1. “Độc Sanh” là nói về bản thể, về mối tương quan độc nhất vô nhị với Đức Chúa Cha. Đức Chúa Jesus là Con theo một cách mà không một tạo vật nào, không một con người nào, không một thiên sứ nào có thể là Con theo cách đó được. Ngài là Con từ bản thể thần linh, từ vĩnh cửu, “ở trong lòng Cha” (Giăng 1:18). Ngài “là sự chói sáng của sự vinh hiển Đức Chúa Trời và hình bóng của bản thể Ngài” (Hê-bơ-rơ 1:3). Cái sự “sanh” này là một mầu nhiệm trong Ba Ngôi, không phải là một sự tạo dựng. Ta cứ xem chuyện ông Áp-ra-ham với Y-sác thì rõ. Dẫu ông Áp-ra-ham có Ích-ma-ên trước, nhưng Y-sác mới được gọi là “con một” (μονογενής - monogenēs, Hê-bơ-rơ 11:17) của lời hứa, vì Y-sác là đứa con độc đáo, nối dõi giao ước. Cũng một lẽ ấy, Đức Chúa Jesus là Con Độc Sanh, là Đấng duy nhất có cùng bản thể với Cha.

  2. Còn chúng ta được làm “con cái Đức Chúa Trời”, đó là bởi ơn điển, bởi sự nhận làm con nuôi (υἱοθεσία - huiothesia). Thánh Phao-lô nói rõ trong Ga-la-ti 4:4-7 rằng Đức Chúa Trời sai Con Ngài đến, “để chuộc những kẻ ở dưới luật pháp, hầu cho chúng ta được làm con nuôi Ngài.” Chúng ta là “con” bởi sự tái sanh thuộc linh (Giăng 3:3-8), bởi đức tin vào Đấng Christ, chứ không phải “con” theo cái nghĩa bản thể như Đức Chúa Jesus. Ngài là Con Tự Nhiên, còn ta là con được nhận. Sự khác biệt ấy, nó lớn như trời với đất vậy.

  3. Vậy thì, Ngài là “Anh Cả” của chúng ta theo nghĩa nào? Là vì Ngài là Đấng đi tiên phong, Đấng khai mở con đường để chúng ta, từ thân phận tội nhân, được trở nên con cái của Đức Chúa Trời. Ngài là “trưởng tử từ trong kẻ chết” (Cô-lô-se 1:18), người đầu tiên phá tan quyền lực của sự chết để đem lại sự sống cho chúng ta. Ngài là mẫu mực, là Đấng mà chúng ta phải noi theo để được “nên giống như hình ảnh Con Ngài” (Rô-ma 8:29). Vai trò “Anh Cả” không hề phủ nhận địa vị “Con Độc Sanh” độc nhất của Ngài, mà trái lại, nó còn làm nổi bật thêm cái công lao vĩ đại của Ngài trong việc đưa “nhiều con đến sự vinh hiển” (Hê-bơ-rơ 2:10).

Cho nên, cái gọi là “mâu thuẫn” ấy, thực ra chỉ là do người ta không chịu phân biệt cho rõ ràng các khái niệm, hoặc là cố tình làm cho nó mập mờ đi để dễ bề xuyên tạc. Đức Chúa Jesus là Con Độc Sanh của Đức Chúa Cha về phương diện bản thể thần linh vĩnh cửu, và đồng thời Ngài cũng là Anh Cả của một gia đình thuộc linh đông đảo gồm những kẻ được Cha nhận làm con nuôi bởi đức tin nơi chính Ngài. Hai điều ấy không những không mâu thuẫn, mà còn bổ sung cho nhau, làm tỏ rạng cái kế hoạch cứu rỗi diệu kỳ của Đức Chúa Trời. Mấy người cố tình vin vào đây để nói rằng thần tính của Ngài có gì đó không trọn vẹn, hoặc cho rằng Cha có nhiều “con thần” ngang hàng, ấy là họ chưa chịu đào sâu suy nghĩ, chưa chịu phân biệt cho rạch ròi cái sự khác nhau giữa “sanh theo bản thể” và “được nhận làm con theo ơn điển” đó thôi.

Trở Thành Con Cái Đức Chúa Trời Qua Đức Tin

Giăng 1:12 tuyên bố rõ ràng: “Nhưng hễ ai đã nhận Ngài [Chúa Jê-su], thì Ngài ban cho quyền phép trở nên con cái Đức Chúa Trời, là ban cho những kẻ tin danh Ngài.” Đây không phải là quá trình tự nhiên hay sinh học, mà là một sự biến đổi thuộc linh căn bản, nơi mà con người nhận được một căn tính mới thông qua đức tin nơi Đức Chúa Giê-su.

Khi Đức Chúa Giê-su dạy các môn đồ cầu nguyện “Lạy Cha chúng tôi ở trên trời” (Ma-thi-ơ 6:9), Ngài đã thiết lập một mối quan hệ gia đình thuộc linh hoàn toàn mới. Điều này không có nghĩa là con người trở thành “thần” hay có cùng bản chất với Đức Chúa Trời, mà có nghĩa là họ được nhận làm con nuôi vào gia đình thiêng liêng qua công việc chuộc tội của Đức Chúa Giê-su.

Những lời dạy như “để các con trở nên con cái của Cha các con trên trời” (Ma-thi-ơ 5:45) và “Phước cho những ai đem lại hòa thuận, vì sẽ được gọi là con Đức Chúa Trời” (Ma-thi-ơ 5:9) cho thấy rằng việc trở thành con cái Đức Chúa Trời gắn liền với việc phản ánh bản tính và phẩm chất của Ngài trong cuộc sống.

Sau khi phục sinh, Đức Chúa Giê-su nói với Ma-ri Ma-đơ-len: “Ta lên cùng Cha Ta, cũng là Cha các con; cùng Đức Chúa Trời Ta, cũng là Đức Chúa Trời các con” (Giăng 20:17). Lời này khẳng định mối quan hệ mới mà các tín hữu có được với Đức Chúa Cha qua Ngài, đồng thời vẫn duy trì sự khác biệt rõ ràng giữa việc Ngài là Con theo bản chất và các tín hữu là con theo ân điển.

Đức Chúa Giê-su – Anh Cả của Gia Đình Thuộc Linh Mới

Thế thì, khi chúng ta, những kẻ tin theo, được ơn điển mà gọi Đức Chúa Trời là Cha, được kể vào hàng con cái của Ngài như mục trên đã bàn, thì cái vị trí của chính Đức Chúa Giê-su trong cái nhà mới này là như thế nào đây? Há Ngài chỉ đơn thuần là Đấng mở lối cho chúng ta vào cửa, rồi thôi sao? Hay là Ngài còn có một vai vế gì khác, một mối tương quan nào nữa với đám “em út” mới được nhận vào gia đình thiêng liêng ấy?

Cứ lật sách Rô-ma, đoạn tám, câu hai mươi chín, thì ông Phao-lô đã viết rành rành: “Vì những kẻ Ngài đã biết trước, thì Ngài cũng định sẵn để nên giống như hình ảnh Con Ngài, hầu cho Con ấy được làm Con Trưởng (πρωτότοκος ἐν πολλοῖς ἀδελφοῖς - prōtotokos en pollois adelphois) giữa nhiều anh em.” Đấy, “Con Trưởng” giữa một đoàn em đông đảo! Ngài là người đi trước, là mẫu mực để cho những người em này được “nên giống như hình ảnh Con Ngài”.

Mà không chỉ có một chỗ đó. Qua sách Cô-lô-se (1:15, 18), ông Phao-lô lại càng làm cho nghĩa nó thêm sáng tỏ: Nào là “Con đầu lòng của mọi vật dựng nên”, nào là “trưởng tử từ những kẻ chết”. Thử hỏi, “đầu lòng”, “trưởng tử”, nó có nghĩa gì, nếu không phải là địa vị đứng đầu, là quyền ưu tiên, là người mở đường, là đấng dẫn dắt cho cả một đoàn em theo sau? Ngài là người đầu tiên phá tan xiềng xích của sự chết, để những kẻ tin theo cũng được thông phần vào sự sống lại vinh hiển ấy. Cái quyền “trưởng nam” này, nó không chỉ nói về thứ tự, mà còn nói về quyền năng khai mở, quyền năng dẫn dắt nữa.

Rồi đến sách Hê-bơ-rơ (2:11) thì lại càng lạ: “Vì Đấng thánh hóa và những người được thánh hóa đều bởi một Cha mà ra. Vì thế, Ngài không hổ thẹn gọi họ là anh em.” [Ghi chú: “một Cha” là cách dịch diễn giải trong nhiều bản Việt ngữ thông dụng; nguyên văn Hy Lạp là “ἐξ ἑνὸς” (ek henos), nghĩa đen “từ một nguồn” — có thể hiểu là từ một Cha, từ một nguồn gốc, hoặc từ một bản chất. Dù hiểu theo cách nào, ý chính vẫn là sự đồng nhất nguồn gốc giữa Đấng thánh hóa và người được thánh hóa.] Chao ôi! Đấng cao cả dường ấy, là Con Một của Đức Chúa Trời, là Đấng đồng bản thể với Cha như ta đã bàn ở phần trên, mà lại “không hổ thẹn” hạ mình xuống, gọi những kẻ tin theo mình – những kẻ vốn là tội nhân, là bụi đất – là “anh em”. Cái tình, cái nghĩa ấy, nó sâu nặng biết chừng nào! Ấy là Ngài muốn chúng ta được chung một nhà, chung một Cha, chung một cơ nghiệp trên trời, mà Ngài chính là người Anh dẫn đầu, người Anh bảo bọc.

Vậy mới thấy, cái danh xưng “Anh Cả” này, nó chẳng những không làm lu mờ cái địa vị “Con Một Độc Sanh” của Ngài, mà còn làm cho cái tình thương bao la, cái công cuộc cứu chuộc lạ lùng của Ngài thêm phần rạng rỡ. Nó cho thấy Ngài không chỉ là Con Một ở riêng với Cha trong vinh quang tự hữu, mà còn bằng lòng trở thành Đấng tiên phong, Đấng dẫn dắt cả một đoàn em đông đảo vào trong sự vinh hiển đời đời ấy. Cái sự làm “Anh Cả” ấy, nó vừa là một vinh dự cho Ngài, mà cũng vừa là một trách nhiệm nặng nề, một sự hy sinh không bờ bến, để cho đàn em được “nên thánh”, được “đến sự vinh hiển”. Hiểu được như thế, mới thấy cái kế hoạch của Đức Chúa Trời nó cao sâu, nó lạ lùng biết bao!

Ý Nghĩa Thần Học của Vai Trò “Anh Cả”

Theo văn hóa Do Thái, con trưởng có vai trò lãnh đạo, thừa kế và trách nhiệm đặc biệt đối với các em trong gia đình. Đức Chúa Giê-su, với tư cách là Anh Cả, trở thành Đấng đại diện cho nhân loại mới trước Đức Chúa Cha, dẫn dắt và bảo vệ những “em” - tức là những người tin Ngài.

Ngài là “A-đam mới”, người Anh Cả vâng phục trọn vẹn ý muốn Cha, đối lập hoàn toàn với A-đam cũ. Ngài là mẫu mực hoàn hảo để các em noi theo, không chỉ trong đạo đức mà cả trong mối quan hệ với Đức Chúa Cha.

Với tư cách là “trưởng tử từ những kẻ chết,” Đức Chúa Giê-su là người đầu tiên chiến thắng sự chết một cách trọn vẹn và vĩnh viễn, mở đường cho các em Ngài cũng được phục sinh và bước vào sự sống đời đời. Người Anh Cả này không hề ích kỷ, mà sẵn sàng hy sinh mạng sống mình để cứu chuộc và thánh hóa các em.

Gia Đình Thuộc Linh Được Định Nghĩa Bởi Sự Vâng Lời

Đức Chúa Giê-su đã định nghĩa rõ ràng ai thuộc về gia đình thuộc linh này: “Vì hễ ai làm theo ý muốn của Cha Ta trên trời, thì người ấy là anh em, chị em và mẹ Ta vậy” (Ma-thi-ơ 12:50). Điều này cho thấy rằng mối quan hệ gia đình thuộc linh không dựa trên huyết thống mà dựa trên sự vâng lời và mối liên hệ với Đức Chúa Giê-su.

Ngược lại, những người không tin và chống đối Đức Chúa Giê-su được miêu tả với những lời nghiêm khắc: “Các ngươi thuộc về cha các ngươi, là ma quỷ, và các ngươi muốn làm theo điều ưa muốn của cha các ngươi” (Giăng 8:44). Điều này tạo ra sự phân biệt rõ ràng giữa con cái của Đức Chúa Trời và con cái của ma quỷ, không phải dựa trên xuất thân mà dựa trên sự lựa chọn và hành động.

Ví Dụ Về Tấm Lòng Con Cái

Ngoài các danh xưng trực tiếp, Thánh Kinh còn chứa đựng những hình ảnh và dụ ngôn làm nổi bật bản chất của mối quan hệ Cha-con mà Đức Chúa Trời mong muốn với nhân loại:

  • Dụ ngôn người con hoang đàng (Lu-ca 15:11-32): Đây là một bức tranh tuyệt vời về tấm lòng của Đức Chúa Cha: yêu thương vô điều kiện, kiên nhẫn chờ đợi, sẵn sàng tha thứ và vui mừng chào đón người con lầm lỗi trở về. Dụ ngôn này minh họa sâu sắc bản chất của mối quan hệ Cha-con mà Đức Chúa Trời muốn phục hồi với nhân loại qua Đấng Christ.
  • Tiếp nhận Nước Đức Chúa Trời như một đứa trẻ (Mác 10:15): Đức Chúa Giê-su nhấn mạnh rằng để vào Nước Trời, người ta cần có những phẩm chất như một đứa trẻ: sự khiêm nhường, tin cậy hoàn toàn và sự phụ thuộc đơn sơ. Đây chính là những phẩm chất cốt yếu của một người con đối với Cha mình trong mối quan hệ thuộc linh.

III. Đức Chúa Giê-su – Chàng Rể Thiêng Liêng của Hội Thánh

Hình ảnh Đức Chúa Giê-su là Chàng Rể và Hội Thánh là Cô Dâu là một trong những ẩn dụ mạnh mẽ nhất trong Tân Ước, mô tả mối quan hệ mật thiết, giao ước và tình yêu hy sinh giữa Đấng Christ và cộng đồng các tín hữu.

Hình Ảnh “Chàng Rể” Trong Lời Dạy của Đức Chúa Giê-su

Giăng Ba-ptít đã giới thiệu khái niệm này khi ông nói: “Ai có cô dâu, người ấy là chàng rể; còn bạn của chàng rể đứng nghe người, thì vui mừng vì tiếng nói của chàng rể” (Giăng 3:29). Điều này không chỉ xác nhận Đức Chúa Giê-su là Chàng Rể mà còn định vị vai trò của Giăng Ba-ptít như một người bạn phù rể, vui mừng vì sự hiện diện của Chàng Rể.

Khi được hỏi về việc kiêng ăn, Đức Chúa Giê-su tự ví mình là Chàng Rể: “Chẳng lẽ các bạn của chàng rể có thể kiêng ăn, khi chàng rể còn ở với họ chăng?” (Mác 2:19). Điều này không chỉ giải thích hành vi của các môn đồ mà còn thiết lập khái niệm về thời kỳ đặc biệt khi Chàng Rể hiện diện cùng cô dâu.

Dụ ngôn Mười Trinh Nữ (Ma-thi-ơ 25:1-13) mở rộng hình ảnh này với sự nhấn mạnh vào việc chuẩn bị và chờ đợi sự trở lại bất ngờ của Chàng Rể. Dụ ngôn này nhấn mạnh sự cần thiết phải tỉnh thức và chuẩn bị của Hội Thánh cho sự tái lâm của Ngài.

Sứ Đồ Phao-lô Phát Triển Khái Niệm Chồng-Vợ Thiêng Liêng

Phao-lô đã phát triển hình ảnh này một cách sâu sắc trong Ê-phê-sô 5:25-27, 31-32: “Hỡi người làm chồng, hãy yêu vợ mình như Đấng Christ đã yêu Hội Thánh, phó chính mình vì Hội Thánh… để khiến Hội Thánh trở nên vinh hiển, không vết, không nhăn… Sự mầu nhiệm nầy là lớn, tôi nói về Đấng Christ và Hội Thánh vậy.”

Ở đây, Phao-lô không chỉ sử dụng mối quan hệ hôn nhân làm ví dụ cho quan hệ Christ-Hội Thánh, mà còn nói rằng mối quan hệ Christ-Hội Thánh là nguyên mẫu cho tất cả các mối quan hệ hôn nhân. Đây là “sự mầu nhiệm lớn” mà ông đề cập đến.

Trong 2 Cô-rinh-tô 11:2, Phao-lô viết: “Vì tôi ghen cho anh em bằng sự ghen của Đức Chúa Trời; bởi tôi đã gả anh em cho một chồng mà thôi, dâng anh em như một người trinh nữ tinh sạch cho Đấng Christ.” Điều này cho thấy Hội Thánh được xem như cô dâu đã được hứa gả, cần giữ mình thanh sạch cho Chàng Rể.

Sách Khải Huyền đưa hình ảnh này đến đỉnh điểm với “tiệc cưới Chiên Con” (19:7-9) và “Cô Dâu, vợ Chiên Con” (21:2, 9). Đây là đỉnh điểm của lịch sử cứu chuộc - sự kết hợp vĩnh cửu và trọn vẹn giữa Đấng Christ và dân Ngài trong vinh quang đời đời.

Ý Nghĩa Thần Học Sâu Xa

Hình ảnh Chồng-Vợ thiêng liêng mang nhiều tầng ý nghĩa quan trọng. Trước tiên, nó biểu thị tình yêu hy sinh và giao ước của Đức Chúa Giê-su. Ngài là Chồng yêu thương Hội Thánh đến nỗi phó chính mình vì Hội Thánh, thiết lập một giao ước vững bền không thể phá vỡ.

Thứ hai, nó nói lên sự hiệp nhất mật thiết không thể tách rời giữa Đấng Christ và những người thuộc về Ngài. Như trong hôn nhân, đây không phải chỉ là mối quan hệ bên ngoài mà là sự hiệp nhất sâu sắc về tâm linh, cảm xúc và mục đích.

Thứ ba, nó đặt ra yêu cầu về sự thanh khiết và trung thành của Hội Thánh. Với tư cách là Cô Dâu, Hội Thánh được kêu gọi sống thánh khiết, trung thành và chuẩn bị cho sự trở lại của Chàng Rể. Mọi hình thức thờ phượng sai lạc hay sự bất trung đều được xem như là tội ngoại tình thuộc linh.

Cuối cùng, hình ảnh này hướng về sự hoàn thành viên mãn trong tương lai. Tiệc cưới Chiên Con trong Khải Huyền tượng trưng cho sự hoàn tất kế hoạch cứu rỗi, nơi Hội Thánh được kết hợp trọn vẹn với Đấng Christ trong vinh quang đời đời, không còn gì có thể ngăn cách.

IV. Các Danh Xưng “Con” Đặc Biệt Khác

Thưa quý vị, ngoài danh xưng cốt lõi là “Con Một của Đức Chúa Cha” và vai vế “Anh Cả” trong gia đình thuộc linh, Đức Chúa Giê-su còn được Thánh Kinh gọi bằng nhiều tiếng “Con” khác nữa. Mỗi tiếng “Con” ấy lại hé mở một khía cạnh khác trong căn tính và sứ mạng lạ lùng của Ngài. Chớ có coi thường, vì mỗi danh xưng đều có ý tứ sâu xa của nó cả.

“Con Người”

Ấy chết, danh xưng này mới thực là đặc biệt! Chính Đức Chúa Giê-su lại hay dùng tiếng “Con Người” này để tự xưng mình hơn tám chục lần trong mấy sách Phúc Âm kia (Ma-thi-ơ 8:20; Mác 8:31; Lu-ca 19:10; Giăng 3:13-14). Nghe thì tưởng là thường, ai mà chẳng là “con người”. Nhưng không, gốc gác của nó lại nằm tít trên trời kia, trong sách Đa-ni-ên (7:13-14) ấy. Sách ấy tả một “Con Người” từ trên mây trời mà đến, được Đấng Thượng Cổ ban cho quyền phép, vinh hiển, cùng một nước không hề hư nát. Đấy, Đức Chúa Giê-su dùng danh xưng này, một mặt là để người ta thấy Ngài thật sự mang lấy xác thịt con người, nếm trải mọi sự khổ đau như ta vậy. Nhưng mặt khác, nó lại ngầm khẳng định sứ mạng và quyền năng thần thượng của Ngài. Đặc biệt là khi Ngài nói về sự mình sẽ chịu khổ, chết, sống lại, rồi thì ngày sau sẽ trở lại trong vinh quang để mà phán xét cả thiên hạ, thì danh “Con Người” này mới tỏ hết oai nghi của nó. Nó cũng hàm ý Ngài là đại biểu lý tưởng, là mẫu mực hoàn hảo cho cả giống người này.

“Con Vua Đa-vít”

Tiếng “Con Vua Đa-vít” này thì khỏi phải nói, nó quen thuộc với lỗ tai người Do Thái lắm. Dân chúng, nhất là mấy người đau yếu tật nguyền đến xin Ngài chữa bệnh, cứ hay gọi Ngài như vậy (Ma-thi-ơ 9:27; Ma-thi-ơ 21:9). Đó là họ công nhận Ngài chính là Đấng Mê-si-a, vị Vua Cứu Thế mà Đức Chúa Trời đã hứa ban cho từ dòng dõi vua Đa-vít oai hùng. Người Do Thái họ trông mong vị “Con Vua Đa-vít” này sẽ đến giải phóng dân tộc, lập lại vương quốc huy hoàng của tổ tiên. Danh xưng này nối Đức Chúa Giê-su với cả một dòng chảy lịch sử, với những lời tiên tri đã được ghi tạc từ ngàn xưa trong Cựu Ước. Nó như một “chứng minh thư” xác nhận Ngài là Đấng được xức dầu, Đấng được chọn lựa.

“Con Áp-ra-ham”

Còn danh “Con Áp-ra-ham” thì sao? Sách Ma-thi-ơ mở đầu gia phả của Ngài bằng câu: “Gia phổ Đức Chúa Giê-su Christ, con cháu Đa-vít, con cháu Áp-ra-ham” (Ma-thi-ơ 1:1). Rồi có lần, Ngài nói về tên Xa-chê là “con cháu Áp-ra-ham” (Lu-ca 19:9). Danh này khẳng định gốc gác, di sản đức tin của Ngài. Nó nối Ngài với giao ước mà Đức Chúa Trời đã lập với tổ phụ Áp-ra-ham, giao ước mà qua đó muôn dân trên đất sẽ được phước. Nó cho thấy chương trình cứu rỗi của Đức Chúa Trời có đầu có cuối, xuyên suốt từ thời tổ phụ cho đến tận Đấng Christ.

V. Khía Cạnh Gia Phả: Ý Nghĩa Của “Sanh” và Cấu Trúc Trong Gia Phả Của Đức Chúa Giê-su (Ma-thi-ơ 1)

Thưa quý vị, mở đầu sách Tin Lành theo ông Ma-thi-ơ, ta thấy ngay một bảng kê dài dằng dặc, nào là “A sanh B”, rồi “B sanh C”, cứ thế mà nối nhau đến tận Đức Chúa Giê-su. Có kẻ đọc qua loa thì cho là một mớ tên tuổi rối rắm, có người kỹ tính hơn một chút thì lại nhíu mày, thấy hình như có chỗ này chỗ kia nó không khớp với mấy gia phả trong Cựu Ước. Thế thì phải hiểu cơ sự này ra làm sao đây?

Từ “Sanh” (ἐγέννησεν - egennēsen) Không Luôn Có Nghĩa Là Cha Trực Tiếp

Trước hết, ta phải nói cho rõ chữ “sanh” (trong tiếng Hy-lạp là egennēsen, còn tiếng Hê-bơ-rơ là yalad) mà ông Ma-thi-ơ dùng. Chữ này, trong lối nói của người Do Thái xưa, nó không phải lúc nào cũng bo bo có nghĩa là ông bố đẻ ra thằng con ngay trong đời mình đâu. Không! Nó có nghĩa rộng hơn thế nhiều.

  • Nó có thể có nghĩa là “gây dựng dòng dõi” hay “là tổ tiên của”. Một ông tổ đời xửa đời xưa vẫn có thể được nói là “sanh” ra một đứa cháu chắt chút chít ở mãi mấy đời sau, miễn là thằng cháu ấy nó thuộc dòng dõi chính tông của ông.
  • Nó cũng có thể hiểu là “truyền huyết thống qua nhiều thế hệ” hay “coi như là con, nhận làm con”. Mục đích chính của mấy ông soạn gia phả ngày xưa là để chỉ rõ dòng dõi hợp pháp, sự kế thừa, sự nối tiếp của một chi tộc, chứ không phải là để làm một sổ khai sinh chi li từng đời một.

Mà chuyện này, không cần phải tìm đâu xa, cứ lật lại sách Sáng thế ký thì thấy rõ như ban ngày. Đó là lúc ông Gia-cốp, gần đất xa trời rồi, gọi hai đứa cháu nội là Ép-ra-im và Ma-na-se (con của Giô-sép) đến. Ông nói thẳng với Giô-sép thế này: “Hai đứa con trai sanh cho con tại xứ Ê-díp-tô trước khi cha đến đây, sẽ thuộc về cha; Ép-ra-im và Ma-na-se sẽ thuộc về cha cũng như Ru-bên và Si-mê-ôn vậy.” (Sáng thế ký 48:5). Đấy, rõ ràng Ép-ra-im và Ma-na-se là cháu nội, thế mà ông Gia-cốp lại tuyên bố “sẽ thuộc về cha”, coi chúng như con ruột của mình, ngang hàng với Ru-bên và Si-mê-ôn là những người con do chính ông sinh ra. Mục đích là gì? Là để cho hai chi phái Ép-ra-im và Ma-na-se sau này cũng được kể vào hàng mười hai chi phái Y-sơ-ra-ên, được hưởng phần gia tài như các con trai khác của Gia-cốp. Thế thì chữ “con”, chữ “thuộc về cha” ở đây, nó đâu có nhất thiết phải là chuyện máu mủ trực tiếp đâu. Nó là một sự công nhận về mặt pháp lý, về mặt kế thừa trong dòng dõi.

Ngay trong gia phả của ông Ma-thi-ơ đây, ta cũng thấy một ví dụ rành rành. Đến đoạn 1 câu 8, ông viết: “Giô-ram sanh Ô-xia.” Nghe thì gọn đấy. Nhưng mà lật lại sách Các Vua hay sách Sử Ký trong Cựu Ước (ví dụ 2 Các Vua 8-15; 1 Sử Ký 3:10-12), thì dòng dõi thực sự nó phải là thế này: Giô-ram đẻ ra A-cha-xia, A-cha-xia đẻ ra Giô-ách, Giô-ách đẻ ra A-ma-xia, rồi A-ma-xia mới đẻ ra Ô-xia (mà Ô-xia cũng có tên khác là A-xa-ria). Thế là sao? Thế là ông Ma-thi-ơ đã tỉnh bơ “nuốt” mất ba đời vua là A-cha-xia, Giô-ách, và A-ma-xia rồi còn gì! Vậy có phải ông Ma-thi-ơ ghi sai, hay là cố tình “lươn lẹo” gì đó không? Thưa không! Đó là một “mẹo” làm văn, một dụng ý của người viết. Ông Ma-thi-ơ, như chính ông đã nói ở cuối gia phả (câu 17), là ông muốn chia dòng dõi này ra làm ba đoạn, mỗi đoạn mười bốn đời. Con số mười bốn (là hai lần bảy, mà số bảy thì thường tượng trưng cho sự trọn vẹn, sự hoàn hảo), nó có ý nghĩa riêng của nó. Để cho nó “tròn số”, cho nó dễ nhớ, và quan trọng hơn là để nhấn mạnh ý tứ thần học của mình, thì việc “tỉa bớt” vài tên trong gia phả là chuyện thường tình trong lối viết của người xưa. Chứ không phải là ông dốt sử hay là muốn lừa bịp ai đâu.

Mà chữ “sanh” này, nó còn có một nghĩa sâu sắc hơn nữa, một nghĩa thuộc linh, khi chính Đức Chúa Giê-su dùng nó. Ta hãy nhớ lại cuộc đối thoại đêm khuya giữa Ngài và ông Ni-cô-đem, một bậc thầy thông giáo của dân Do Thái (Giăng đoạn 3). Đức Chúa Giê-su đã phán một câu khiến ông này phải ngơ ngác: “Quả thật, quả thật, Ta nói cùng ngươi, nếu một người chẳng sanh lại (γεννηθῇ ἄνωθεν - gennēthē anōthen, nghĩa là “sanh từ trên”, “sanh từ trời”, “sanh lần nữa”), thì không thể thấy nước Đức Chúa Trời.” (Giăng 3:3). Ông Ni-cô-đem, với đầu óc thực tế của mình, liền hỏi vặn lại: “Người đã già, có thể nào sanh lại được? Có thể nào vào lòng mẹ và sanh lần thứ hai sao?” Rõ ràng ông đang hiểu chữ “sanh” theo nghĩa đen thui. Nhưng Đức Chúa Giê-su đang nói về một sự “sanh” hoàn toàn khác: sự sanh bởi Thánh Linh, một sự tái tạo thuộc linh, một sự biến đổi từ bên trong để có thể bước vào mối tương giao mới với Đức Chúa Trời. Đó là một sự “sanh” không dính dáng gì đến xương thịt, mà là chuyện của tâm linh, của đức tin.

Vậy thì, điều này nó liên quan gì đến chuyện thần tính của Đức Chúa Giê-su? Thưa, nó liên quan mật thiết lắm thay! Khi Thánh Kinh gọi Đức Chúa Giê-su là “Con Một của Đức Chúa Cha”, hay dùng những từ ngữ như “sanh ra từ Cha trước muôn đời” (như trong các tín điều cổ), nếu ta cứ khư khư giữ nghĩa đen “sanh ra” theo kiểu con người sinh con đẻ cái, hay tệ hơn nữa là hiểu theo kiểu “được tạo ra”, thì hỏng bét! Chúng ta đã vô tình hay hữu ý hạ thấp Ngài xuống hàng tạo vật, cho Ngài có một khởi đầu trong thời gian, một sự phụ thuộc vào Đấng Tạo Hóa theo kiểu chủ-tớ.

Cách người Do Thái dùng chữ “sanh” hay “con” một cách linh hoạt trong gia phả cho ta một chìa khóa để hiểu rằng mối quan hệ Cha-Con giữa Đức Chúa Trời Cha và Đức Chúa Giê-su Con nó vượt lên trên mọi khái niệm trần thế. Chữ “Con” ở đây nó không phải để chỉ một sự tạo dựng, mà là để nói lên một mối tương quan đồng bản thể, đồng vĩnh cửu, một sự hiệp nhất mật thiết và độc nhất vô nhị. Cũng như Ép-ra-im và Ma-na-se được Gia-cốp “sanh” ra theo nghĩa nhận làm con, làm người thừa kế, thì Đức Chúa Giê-su, dù được gọi là “Con”, Ngài vẫn là Đức Chúa Trời, “được sanh ra chứ không phải được tạo thành, đồng bản thể với Đức Chúa Cha” – như Tín điều Nicene (một văn kiện lịch sử, tuy không mang thẩm quyền Thánh Kinh, nhưng phản ánh chính xác lời dạy của Kinh Thánh) đã ghi nhận.

Cho nên, khi ông Ma-thi-ơ ghi “A sanh B” trong gia phả, ta phải hiểu rằng có khi A là cha ruột của B, nhưng cũng có khi A là ông nội, ông cố của B, hoặc là người nhận B vào dòng dõi của mình. Và quan trọng hơn, khi ta suy ngẫm về việc Đức Chúa Cha “sanh” ra Đức Chúa Con, ta phải cẩn trọng để không rơi vào cái bẫy của lối suy diễn hạn hẹp, mà phải vươn tới một sự hiểu biết sâu sắc hơn về một mầu nhiệm thần học: một mối quan hệ Cha-Con vĩnh cửu, không hề mang ý nghĩa sáng tạo – tạo vật, mà là sự bày tỏ tình yêu và sự hiệp nhất hoàn hảo trong chính bản thể Ba Ngôi Đức Chúa Trời. Đừng có vội thấy chữ “sanh” mà đã đinh ninh là có kẻ trước người sau, có Đấng Tạo Hóa và có tạo vật. Ấy là ta chưa hiểu hết sự cao sâu của lời Chúa đó thôi.

Cách Hiểu Từ “Sanh” Trong Các Ngữ Cảnh Khác Nhau

Để làm rõ hơn, chúng ta có thể xem xét các nghĩa khác nhau của từ “sanh” trong Thánh Kinh:

Từ “sanh” trong Thánh KinhNghĩa cụ thểVí dụ điển hình trong bối cảnh “cha/con”
Cha sanh con (trực tiếp)Quan hệ sinh học, thế hệ liền kềÁp-ra-ham sanh Y-sác (Sáng 21:2-3)
Tổ tiên – hậu duệ (qua nhiều đời)Dòng dõi, huyết thống được truyền nốiGiô-ram “sanh” Ô-xia (Ma-thi-ơ 1:8)
Nguồn gốc thuộc linh/bản chấtThuộc về một bản chất hoặc ảnh hưởng tinh thần“Các ngươi bởi cha mình là ma quỷ mà sanh ra” (Giăng 8:44 – bản dịch cũ); hoặc “Các ngươi làm theo những việc của cha mình.”
Sanh lại (tái sinh)Một sự biến đổi thuộc linh, một khởi đầu mới“Nếu một người chẳng sanh lại, thì không thể thấy nước Đức Chúa Trời.” (Giăng 3:3)
“Sanh” trong bối cảnh Ba NgôiMối tương quan vĩnh cửu, đồng bản thể, không có khởi đầu trong thời gian“Con Một” (monogenēs, Giăng 3:16) — không chỉ sự tạo dựng mà chỉ mối liên hệ độc nhất, đồng bản thể giữa Cha và Con từ đời đời.

Bài Học Thần Học Từ Cách Trình Bày Gia Phả

Cách Ma-thi-ơ trình bày gia phả mang lại những bài học thần học quan trọng:

  1. Chủ đích thần học là ưu tiên: Gia phả của Ma-thi-ơ được biên soạn không chỉ để liệt kê tổ tiên một cách máy móc, mà quan trọng hơn là để chứng minh Đức Chúa Giê-su chính là Đấng Mê-si-a được hứa, thuộc dòng dõi hoàng gia của vua Đa-vít và là hậu duệ của tổ phụ Áp-ra-ham. Điều này cho thấy Ngài là Đấng ứng nghiệm các lời tiên tri Cựu Ước, nhắm đến đối tượng độc giả Do Thái.
  2. Tính chức năng và biểu tượng: Việc sắp xếp gia phả theo cấu trúc (ví dụ 3x14 đời) và có thể bỏ qua một số thế hệ là một phương pháp tu từ và ghi nhớ phổ biến trong văn học cổ đại. Điều này không làm suy giảm tính xác thực hay đáng tin cậy của Thánh Kinh về mặt thông điệp cốt lõi, mà cho thấy Thánh Kinh sử dụng các quy ước văn học của thời đại nó được viết ra để truyền tải chân lý một cách hiệu quả.
  3. Đức Chúa Trời hành động trong lịch sử: Dù có những thế hệ không được liệt kê, gia phả vẫn khẳng định sự tể trị và hành động liên tục của Đức Chúa Trời qua các giai đoạn lịch sử của dân Y-sơ-ra-ên để dẫn đến sự ra đời của Đấng Cứu Thế. Sự xuất hiện của những người phụ nữ (Tha-ma, Ra-háp, Ru-tơ, vợ của U-ri) trong gia phả, một điều không phổ biến trong gia phả Do Thái, cũng nhấn mạnh tính bao gồm của ân điển Đức Chúa Trời và cách Ngài hành động qua những con người bất toàn.

Việc hiểu đúng bối cảnh và mục đích này giúp chúng ta tránh những kết luận vội vàng về “mâu thuẫn” giữa các gia phả (ví dụ, giữa Ma-thi-ơ và Lu-ca) hoặc chỉ trích Thánh Kinh dựa trên tiêu chuẩn biên soạn sử liệu hiện đại.

Bảng Tóm Tắt Các Ngữ Cảnh Tiêu Biểu Về Mối Quan Hệ Và Danh Xưng Của Đức Chúa Giê-su

Ngữ cảnh/Thánh KinhNội dung chính của mối quan hệ hoặc danh xưngÝ nghĩa thần học/Hàm ý chính
Giăng 10:30“Ta với Cha là một.”Đồng bản thể, đồng ý muốn, đồng quyền năng giữa Cha và Con.
Giăng 17:1-5Lời cầu nguyện của Giê-su với “Cha”Sự hiệp nhất vĩnh cửu, vâng phục, sứ mạng cứu chuộc từ Cha, tiền hiện hữu.
Mác 1:11; Lu-ca 3:22Tiếng từ trời: “Con là Con yêu dấu của Ta.”Xác nhận căn tính Con Thiên Chúa của Giê-su từ Cha.
Giăng 1:12“…ban cho quyền phép trở nên con cái Đức Chúa Trời…”Con người trở thành con Đức Chúa Trời qua đức tin nơi Giê-su, bởi ân điển.
Rô-ma 8:29“…hầu cho Con ấy được làm Con trưởng giữa nhiều anh em.”Giê-su là Anh Cả, tín hữu là em trong gia đình Đức Chúa Trời; Ngài là mẫu mực.
Cô-lô-se 1:15, 18“Con đầu lòng của mọi vật dựng nên”, “trưởng tử từ những kẻ chết”Vị trí ưu tiên, tối cao, Đấng Tạo Hóa, lãnh đạo, khai mở sự sống mới của Giê-su.
Hê-bơ-rơ 2:11“Ngài không hổ thẹn gọi họ là anh em…”Sự gần gũi, đồng nhất của Giê-su với những người được thánh hóa; tình yêu hy sinh.
Ma-thi-ơ 12:50“Ai làm theo ý Cha Ta… là anh em, chị em, mẹ Ta.”Gia đình thuộc linh được định nghĩa bởi sự vâng lời Cha, liên kết với Giê-su là trung tâm.
Giăng 3:29; Mác 2:19Giê-su là “Chàng Rể”.Sự hiện diện của Giê-su mang đến niềm vui; sự chuẩn bị cho mối quan hệ giao ước với dân Ngài.
Ê-phê-sô 5:25-32Đấng Christ là Chồng, Hội Thánh là Vợ.Tình yêu hy sinh, sự hiệp nhất mật thiết, sự thánh hóa Hội Thánh, sự mầu nhiệm lớn.
2 Cô-rinh-tô 11:2Phao-lô gả Hội Thánh cho Đấng Christ như một trinh nữ.Sự tinh sạch, trung thành của Hội Thánh đối với Đấng Christ như Cô Dâu.
Khải Huyền 19:7-9; 21:2,9Tiệc cưới Chiên Con; Hội Thánh là Cô Dâu/Vợ Chiên Con.Sự kết hợp vĩnh cửu, vinh hiển giữa Đấng Christ và Hội Thánh khi lịch sử cứu chuộc hoàn tất.
Giăng 8:42-44Phân biệt con cái Đức Chúa Trời và con cái ma quỷ.Bản chất thuộc linh được thể hiện qua hành động, lòng tin và sự lựa chọn.
Đa-ni-ên 7:13-14; Mác 8:31“Con Người”Nhân tính thật, sứ mạng chịu khổ, chết, sống lại, quyền năng thần thượng, Đấng phán xét.
Ma-thi-ơ 21:9“Con Vua Đa-vít”Công nhận Giê-su là Đấng Mê-si-a theo lời hứa, thuộc dòng dõi hoàng gia.
Ma-thi-ơ 1:1-17 (Gia phả)“A sanh B…” dẫn đến Giê-su là con Áp-ra-ham, con Đa-vít.Chứng minh Giê-su là Đấng Mê-si-a ứng nghiệm lời tiên tri; từ “sanh” có thể chỉ tổ tiên/dòng dõi.
Ma-thi-ơ 1:8 (Giô-ram-Ô-xia)“Giô-ram sanh Ô-xia” (bỏ qua 3 thế hệ)Gia phả có cấu trúc thần học, không nhất thiết đầy đủ mọi cá nhân; phục vụ mục đích tu từ.
Lu-ca 15:11-32Dụ ngôn người con hoang đàngMinh họa tình yêu vô điều kiện, sự tha thứ và lòng thương xót của Đức Chúa Cha.

Ghi chú: “Con Thần Sấm” (Boanerges, Mác 3:17) không phải danh xưng của Đức Chúa Giê-su mà là biệt danh Ngài đặt cho hai môn đồ Gia-cơ và Giăng, mô tả tính khí nhiệt thành, bộc trực của họ (xem Lu-ca 9:54).

Thiện Ác Đấu Tranh — Thập tự giá giữa ánh sáng và bóng tối
Thiện Ác Đấu Tranh — Thập tự giá giữa ánh sáng và bóng tối

VI. Kết Luận

Vậy thì, thưa quý vị, sau khi đã tỉ mẩn xem xét các mối liên hệ, các danh xưng của Đức Chúa Giê-su, ta có thể nói gì cho rốt ráo đây?

Thưa, danh hiệu “Con Một của Đức Chúa Cha” ấy, nó nào phải một cách diễn đạt cho hoa mỹ, cho ra vẻ thần thánh đâu. Nó là chân lý vững chắc, xác quyết Ngài với Đức Chúa Cha là một, là đồng bản thể, đồng vinh hiển. Đó là mấu chốt, không có nó thì chuyện cứu chuộc cả nhân loại này làm sao mà đứng vững được? Phải là Thiên Chúa thì mới gánh nổi tội lỗi của cả thế gian chứ! Những kẻ bận rộn tìm cách hạ thấp Ngài xuống hàng thụ tạo, kể cũng phí công, bởi đã không chịu nhìn vào bản chất ấy.

Rồi danh hiệu “Anh Cả” nữa, nghe thì tưởng việc nhà bình thường, nhưng mà suy xét kỹ thì thấy trách nhiệm, sự tiên phong của Ngài nó vĩ đại đến dường nào. Chính Ngài đã bằng lòng đi tiên phong, khai mở một con đường mới, để rồi những ai tin cậy thì mới được gọi là “em”, được thu nhận vào gia đình của Đức Chúa Trời. Ngài là đầu, là mẫu, để cho đám em út noi theo mà được biến đổi. Chứ đâu phải Ngài chỉ là một “người anh” đức độ hơn người đôi chút!

Còn hình tượng “Tân Lang” với “Tân Nương” là Hội Thánh, chẳng phải là câu chuyện tình ái nam nữ ủy mị đâu. Nó nói lên một giao ước thâm sâu, một sự hy sinh đến cực điểm của Đấng Christ. Nó nói lên sự gắn kết bền chặt, ước vọng về một ngày đoàn tụ viên mãn, khi mọi việc đã được chu toàn. Tình yêu ấy đòi hỏi cả sự trung tín, sự thánh sạch từ phía “cô dâu”, chứ không phải là một mối tình hời hợt, dễ đến dễ đi.

Những danh hiệu như “Con Người”, “Con Vua Đa-vít”, hay cách trình bày gia phả, từ “sanh” trong đó, thảy đều có chủ đích của nó cả. Ấy là để thiên hạ thấy rõ Ngài vừa là người thật, vừa là Đấng Mê-si-a mà dân Do Thái bao thế hệ trông mong, lại vừa là Đấng mà Thiên Chúa đã dự định từ vĩnh cửu. Thấu hiểu cho đúng cách người xưa dùng từ, dùng văn, thì mới tránh được những cuộc tranh luận vô ích, bám víu vào những chi tiết nhỏ nhặt để mà bác bỏ sự thật vĩ đại.

Mà ta còn phải nhìn cho rộng hơn nữa. Tất cả các danh xưng, các mối quan hệ này của Đức Chúa Giê-su, chúng không tồn tại trong một chân không thần học đâu. Chúng nằm trong bối cảnh vĩ đại của Cuộc Thiện Ác Đấu Tranh — cuộc xung đột vũ trụ giữa Đức Chúa Trời và Sa-tan, giữa chân lý và giả dối, đã bắt đầu từ trên trời khi Lu-xi-phe nổi loạn (Ê-sai 14:12-14; Ê-xê-chi-ên 28:12-17; Khải Huyền 12:7-9). Chính trong cuộc xung đột này mà thần tính của Đấng Christ bị tấn công dữ dội nhất. Sa-tan từ xưa đến nay luôn tìm cách hạ thấp Đức Chúa Giê-su — nào là qua sự cám dỗ trong đồng vắng (“nếu ngươi là Con Đức Chúa Trời…”, Ma-thi-ơ 4:3, 6), nào là qua các tà giáo phủ nhận thần tính Ngài qua các thời đại. Hiểu được điều này, ta mới thấy rằng việc khẳng định Đức Chúa Giê-su là Đức Chúa Trời trọn vẹn, đồng bản thể với Cha, không chỉ là một bài tập thần học hàn lâm, mà là đứng về phía chân lý trong cuộc chiến thuộc linh có tầm vóc vũ trụ. Và chính Đấng Christ, qua sự chết và phục sinh của Ngài, đã giáng cho kẻ thù đòn quyết định, bảo đảm rằng chân lý sẽ thắng, sự gian ác sẽ bị tiêu diệt, và Đức Chúa Trời sẽ được tôn vinh muôn đời (Khải Huyền 11:15).

Hơn nữa, ngay lúc này, Đức Chúa Giê-su đang thi hành chức vụ Thầy Tế Lễ Thượng Phẩm trong đền thánh trên trời (Hê-bơ-rơ 8:1-2). Ngài không chỉ đã chết thay cho chúng ta trên thập tự giá, mà còn đang sống để cầu thay cho chúng ta (Hê-bơ-rơ 7:25). Ngài là Thầy Tế Lễ Thượng Phẩm “có thể cảm thương sự yếu đuối chúng ta, vì đã bị thử thách trong mọi việc cũng như chúng ta, song chẳng phạm tội” (Hê-bơ-rơ 4:15). Chức vụ này một lần nữa khẳng định thần tính của Ngài — vì chỉ có Đấng vừa là Đức Chúa Trời trọn vẹn vừa là con người trọn vẹn mới có thể làm Đấng Trung Bảo hoàn hảo giữa Đức Chúa Trời thánh khiết và nhân loại tội lỗi (1 Ti-mô-thê 2:5; Hê-bơ-rơ 4:14-16). Và chính trong đền thánh trên trời ấy, lời tiên tri Đa-ni-ên 8:14 — “Cho đến hai ngàn ba trăm buổi chiều và buổi mai; sau đó nơi thánh sẽ được thanh sạch” — tìm được sự ứng nghiệm qua chức vụ phán xét điều tra (Investigative Judgment) của Đấng Christ, khi Ngài xem xét các hồ sơ trên trời trước khi tái lâm, để minh oan cho dân sự Ngài và khẳng định rằng sự cứu rỗi bởi ân điển qua đức tin đã thực sự biến đổi đời sống họ (Khải Huyền 14:7, 12).

Nói tóm lại, việc chúng ta “nghiền ngẫm đi nghiền ngẫm lại” những mối liên hệ này của Đức Chúa Giê-su không phải để phô diễn chữ nghĩa hay tỏ ra thông thái gì đâu. Mà là để nhận thức rõ ràng hơn tình yêu đa diện, chương trình cứu độ kỳ diệu của Đức Chúa Trời. Để rồi, đức tin của mỗi người chúng ta được đặt trên một nền tảng vững chắc hơn, chứ chẳng phải là một mớ cảm xúc mông lung. Và khi đã nhận biết, đã tin tưởng rồi, thì không phải là để đấy, mà là để sống, để tiến vào một mối thông công thực sự với Ngài, đáp đền ân sủng mà Ngài đã ban xuống không ngần ngại. Cách Thánh Kinh sử dụng ngôn từ, dùng chữ, cũng là một bài học cho chúng ta, phải thận trọng, phải tìm cho ra ý nghĩa thâm sâu, chứ đừng hấp tấp phán đoán theo cái nhìn hời hợt của bản thân. Ấy mới là cách của người học đạo vậy.